Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước Vũ Bằng trò chuyện về những ký ức thuở ban đầu “khai thiên, lập địa”.
Ngày 20/7 tới đây, thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ chính thức lên 10! Một chặng đường chưa đủ dài, nhưng cũng không quá ngắn để nhìn nhận và có những cảm quan... Với riêng Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà Nước Vũ Bằng, để có được con số 10 tròn trĩnh của ngày hôm nay, ít ai có thể hình dung được ông và các cộng sự đã từng phải dò dẫm những bước đầu tiên đầy gian khó.
Dưới đây là cuộc trò chuyện của Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước Vũ Bằng với phóng viên về những ký ức thuở ban đầu “khai thiên, lập địa” ấy. “Bảy triệu rưỡi” dắt lưng Nam tiến
- Giới trong ngành vẫn đồn đại nhau câu chuyện ông và các đồng nghiệp "tay không bắt giặc" khi Nam tiến để lập Trung tâm giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh. Vậy thực hư chuyện đó ra sao, thưa ông? Ông Vũ Bằng: Khoảng cuối năm 1999, ngày đầu tiên vào làm Giám đốc Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HoSE), tôi được Văn phòng Ủy ban cấp 7,5 triệu đồng để chi tiêu cho hoạt động và bố trí cho một phòng làm việc cũ tại tòa nhà B (trụ sở hiện nay của HoSE)!
Chưa có phương tiên liện lạc nên tôi quyết định mua một điện thoại di động hết 4,2 triệu đồng, còn lại hơn 3 triệu đồng mở tài khoản dùng mua một số vật dụng làm việc và thu xếp trụ sở để anh em chuyển từ Ngân hàng Nhà nước sang làm việc.
Còn nhớ, khi đó tôi liên tục phải di chuyển giữa Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, kinh phí hạn hẹp phải ngủ nhờ nhà ông anh. Mỗi sáng, anh Trần Đắc Sinh (hiện là Tổng giám đốc HoSE) lại phải thêm một công đoạn dùng xe gắn máy qua đón tôi tới trụ sở cùng làm việc.
Mặc dù điều kiện làm việc rất khó khăn nhưng tất cả anh, em chúng tôi đều hăm hở lao vào công việc chuẩn bị cho ngày ra mắt thị trường.
Thời gian đó, toàn bộ cán bộ, nhân viên đều làm việc liên tục tới 9-10 giờ đêm. Nhóm thì ngồi với chuyên gia đến từ Công ty FPT, nhóm thì trao đổi với các chuyên gia Thái Lan, nhóm khác thì trải dây khắp trên sàn để lắp đặt máy móc. Đặc biệt, anh em phòng lưu ký thường phải làm việc với chuyên gia FPT đến 2-3 giờ sáng.
Thực hiện công tác chuẩn bị hoàn toàn là người của Trung tâm, không thuê mướn ai. Không khí rạo rực giống như chiều 30 Tết ngồi gói bánh trưng ở nhà!
- Có nhiều “giai thoại” về hệ thống công nghệ của Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh. Nhiều người cho rằng nếu như chúng ta chịu đầu tư tiền của ngay từ ban đầu để chuẩn hóa hệ thống công nghệ thì sẽ không có các sự cố "sập sàn" sau này?
Ông Vũ Bằng: Đúng là như vậy. Thời kỳ đầu, trong khi chúng tôi cũng đang lúng túng về việc đầu tư hệ thống công nghệ thì có một vị chuyên gia, nguyên Chủ tịch Sở giao dịch chứng khoán Thái Lan sang Việt Nam và đặt vấn đề, “châu Á hiện đang trong giai đoạn khủng hoảng, công suất Sở Giao dịch chứng khoán Thái Lan rất lớn, trong khi quy mô giao dịch nhỏ, tại sao Việt Nam phải xây dựng hệ thống công nghệ cho tốn kém, chỉ cần nối một đường truyền sang Sở Thái Lan?”
Đối với chúng tôi lúc đó hiểu biết thị trường còn hạn chế, chỉ đơn giản nghĩ là toàn bộ thông tin của thị trường mình mà liên thông sang Thái Lan thì rất khó chấp nhận, nên chúng tôi không trả lời, cuối cùng thì Sở Thái Lan đã đề xuất hỗ trợ giúp ta xây dựng hệ thống giao dịch.
Một câu chuyện thú vị về bảng điện tử giao dịch. Do không có kinh phí mua mới nên anh Lê Văn Châu (Nguyên Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước) có liên hệ Tập đoàn Chinfon tặng một bảng điện tử. Tuy nhiên, sau khi treo bảng điện tử thì nó lại không hiển thị do không tương thích với hệ thống giao dịch.
Tình hình rất căng vì ngày 28/7 là ngày khai trương giao dịch, mà trước đó gần 1 tháng bảng điện tử vẫn chưa hoạt động. Chúng tôi phải họp ngay với Sở Giao dịch Thái Lan và Chinfon để xử lý kịp thời xây dựng phần mềm cho bảng điện tử, cuối cùng ba bên thống nhất phối hợp triển khai, song đến sát ngày giao dịch bảng điện tử vẫn chưa hoạt động.
Anh Lê Văn Châu lại quyết định sang Thái Lan mua gấp bảng điện tử, nhưng khi mua được bảng điện tử về thì các chuyên gia đã xử lý được vấn đề kết nối với bảng điện tử của Chinfon, cuối cùng sau đó chúng tôi đành cho Công ty chứng khoán ACB mượn bảng điện tử mua từ Thái Lan.
Lo ngại nhất vẫn là tình trạng kỹ thuật, sau khi hoạt động một thời gian ngắn, hệ thống bất ngờ bị trục trặc vào cuối buổi - Không có giá khớp lệnh. Chúng tôi cấp tốc gọi điện sang Thái Lan, nhưng là ngày cuối tuần nên cán bộ phía bạn đã nghỉ. Sau đó, chúng tôi trao đổi với anh Trần Đắc Sinh giao cho anh em công nghệ tin học khẩn cấp nghiên cứu xem có thể sử dụng tạm hệ thống Mock Trading System (hệ thống giao dịch thử nghiệm để dạy học của Hàn Quốc) thay thế không đồng thời cử cán bộ tới các công ty chứng khoán, để khôi phục lại số liệu của ngày giao dịch thứ Sáu.
Cũng may là lúc đó khối lượng giao dịch chưa nhiều nên số liệu có thể khôi phục gần hết, nhưng hệ thống Mock không thể dùng được cho hệ thống giao dịch của Thái Lan.
Quả là một sáng Chủ nhật "nghẹt thở" khi chuyên gia Thái Lan ngày hôm đó mới sang được Việt Nam và mãi tới quá đêm mới sửa xong, khôi phục được hết số liệu. Thật may, sáng thứ Hai, thị trường lại giao dịch bình thường. Lúc đó bên ngoài thị trường không hề biết có trục trặc như vậy.
Chúng tôi thực sự lo lắng cho hệ thống công nghệ ban đầu như vậy. Đến sau này, vẫn còn phát sinh những trục trặc mà báo chí gọi là “sập sàn”.
Thị trường "nóng" cần cái đầu "lạnh"
Thị trường chứng khoán trải qua 10 năm có rất nhiều giai đoạn thăng trầm. Vậy đâu là thời điểm mà ông phải đưa ra những quyết định khó khăn?
Ông Vũ Bằng: Giai đoạn đầu, hoạt động thị trường rất khó khăn. Các yếu tố thị trường chưa hình thành đồng bộ, hiểu biết của nhà đầu tư chưa cao, hàng hóa trên thị trường còn ít. Các doanh nghiệp cổ phần hóa chưa nhiều và chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ. Cơ chế phối hợp trong chính sách điều hành, quản lý giám sát thị trường còn hạn chế, cung cầu cổ phiếu mất cân đối nên giá bị đẩy lên hàng ngày.
Thị trường chỉ trong vòng nửa năm đã tăng rất nóng lên tới gần 580 điểm, lúc đó Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã đưa ra một số giải pháp hành chính can thiệp vào thị trường nhằm hạn chế hiện tượng “bong bóng” của cổ phiếu. Kết quả làm cho thị trường sụt giảm mạnh, nhiều người mất tiền. Đấy là bài học kinh nghiệm đầu tiên của tôi cũng như anh em trong việc điều hành thị trường.
Một thời điểm nữa, đó là vào cuối năm 2007, khi thị trường chứng khoán và bất động sản phát triển quá nóng đồng thời lạm phát tăng cao, rất nhiều chuyên gia quốc tế khuyến nghị Việt Nam nên áp dụng giải pháp mạnh.
Họ ví thị trường chứng khoán như một quả bóng cần phải làm cho xì hơi, chứ không để phát triển đến lúc nổ tung không kiểm soát được. Họ đề xuất áp dụng hai giải pháp như của Thái Lan: vốn đầu tư nước ngoài phải một năm sau mới được rút ra, nếu rút ra dưới 1 năm thì chỉ được phép rút 2/3 số tiền và đánh thuế vào việc hồi vốn này.
Tuy nhiên, chúng ta đã biết là khi Thái Lan công bố hai giải pháp này thì thị trường chứng khoán biến động mạnh, nhà đầu tư nước ngoài ồ ạt rút vốn ra và Bộ trưởng Tài chính Thái Lan phải tuyên bố hủy bỏ biện pháp này.
Khi đó, mặc dù thấy tình trạng thị thường đã rất căng thẳng nhưng chúng tôi quả quyết rằng nhận định của chuyên gia nước ngoài nói vốn đầu tư gián tiếp gây ra hiện tượng đầu cơ, nguy cơ tạo ra đổ vỡ khi đảo vốn rút ra ở Việt Nam là chưa chính xác vào thời điểm đó.
Cơ sở là tổng vốn đầu tư nước ngoài lúc đó vào khoảng 8,4 tỷ USD, thì vốn đầu cơ chỉ là 31 triệu USD. Cho nên nói giới đầu cơ thao túng các quỹ đầu tư là không đúng. Kế đó, chúng ta chưa có thị trường phái sinh nên tác động của đầu cơ đối với Việt Nam chưa cao. Hơn nữa, dự trữ ngoại tệ của Việt Nam gấp hai lần vốn đầu tư gián tiếp và nợ ngoại tệ ngắn hạn thì chưa thể dẫn đến khủng hoảng...
Cuối cùng, chúng tôi quyết định trình Chính phủ chưa nên áp dụng hai giải pháp như của Thái Lan. Đến bây giờ nhìn lại, tôi thấy đây là những mốc rất quan trọng cho thị trường hồi phục và phát triển. Không chỉ cá nhân tôi, mà những ai làm quản lý thị trường đều nhận thức rõ ràng rằng: Trong quá trình chỉ đạo điều hành, vấn đề cân đối cung cầu, các chính sách tài chính tiền tệ, cải cách trong cổ phần hóa, đổi mới trong chính sách quản lý đầu tư nước ngoài là rất quan trọng và cần phải có một cái đầu "lạnh"./.
Cột mốc đáng nhớ:
- Năm 1995, Thủ tướng Chính phủ đã thành lập Ban Chuẩn bị tổ chức thị trường chứng khoán.
- Ngày 28/11/1996, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 75/1998/NĐ-CP về việc thành lập UBCKNN.
- Ngày 20/7/2000, Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP Hồ Chí Minh chính thức đi vào hoạt động .
- Ngày 8/3/2005, Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội chính thức đi vào hoạt động.
- Ngày 27/7/2005, Trung tâm Lưu ký Chứng khoán Việt Nam được chính thức thành lập.
Quy mô tăng trưởng thị trường
- Trong 5 năm đầu, giá trị giao dịch bình quân chỉ là 55 tỷ đồng/phiên, 5 năm tiếp theo đạt 1.300 tỷ đồng/phiên, gấp gần 25 lần.
- Số lượng công ty niêm yết tăng từ 2 công ty niêm yết lên 550 công ty với mức vốn hóa trên 700 nghìn tỷ đồng, chiếm trên 40% GDP.
- Tổng giá trị vốn huy động trong 5 năm gần đây đạt gần 300 nghìn tỷ đồng, chiếm 20% GDP; trong đó riêng năm 2007 tổng giá trị huy động vốn qua thị trường chứng khoán đạt 127 nghìn tỷ đồng.
- TTCK trở thành kênh huy động tới 42% tổng giá trị các đợt phát hành Trái phiếu Chính phủ.
Đó là nhận định của TS Lê Xuân Nghĩa, Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, khi trao đổi với phóng viên Báo Người Lao Động xoay quanh mục tiêu tăng trưởng kinh tế của năm 2010
"Khi lao động thất nghiệp giảm, có nghĩa là cơ hội việc làm lớn và ngược lại, đâu cần quan tâm một năm anh cần tạo bao nhiêu việc làm mới", nguyên Viện trưởng Viện Khoa học lao động và xã hội Nguyễn Hữu Dũng nói với VnEconomy.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng 7-2010 tại TPHCM giảm 0,09% so với tháng trước. Đây là tín hiệu đáng mừng, cho thấy các giải pháp kiềm chế lạm phát đã phát huy tác dụng. TPHCM sẽ làm gì để giữ chỉ tiêu năm 2010 ở mức 7% như kỳ vọng? PV Báo SGGP đã trao đổi với Phó Chủ tịch UBND TPHCM Nguyễn Thị Hồng (ảnh) để làm rõ những nội dung này.
Ông Trương Đình Tuyển cho rằng: "Cần phải khởi động, phải quyết tâm tái cấu trúc nền kinh tế. Vì đây là một giải pháp quan trọng để phát triển nhanh và bền vững. Tôi tin Đại hội sẽ quyết định. Và, với không khí Đại hội sẽ chuyển từ quyết tâm sang hành động".
Trung Quốc sẽ phải đấu dịu sau đó, nếu không thì khó có thể ai chơi với Trung Quốc được. Bối cảnh hiện nay tạo cho Việt Nam một thời cơ hiếm có để giành được sự ủng hộ của thế giới bên ngoài và hậu thuẫn của nhân dân trong nước - Giáo sư Ngô Vĩnh Long nhận định.
Ông Trương Đình Tuyển cho rằng: “Khuyết điểm của Việt Nam là đã để mô hình phát triển theo chiều rộng quá lâu. Căn nguyên ở chỗ chúng ta đã không tạo ra thể chế để có thể chuyển ngay được. Cho nên tới đây, cái nào chuyển nhanh sang chiều sâu thì phải chuyển ngay, cái nào chưa có điều kiện phải chấp nhận để chuyển dần”.
Kích cầu thị trường xi-măng nội địa là một trong các giải pháp ưu tiên để “hạ nhiệt” cán cân cung-cầu và giảm lượng tồn kho của các doanh nghiệp kinh doanh xi-măng trong cả nước. Đó là lời khẳng định của ông Lê Văn Tới (ảnh), Vụ trưởng Vụ Vật liệu xây dựng, Bộ Xây dựng khi trao đổi với phóng viên Báo Nhân Dân.
Trước thềm Đại hội Đảng bộ huyện Nam Đàn lần thứ 25, Phó bí thư huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện Nam Đàn, ông Thái Văn Nông đã trao đổi với phóng viên Báo Đầu tư về những mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của huyện nhà trong 5 năm tới.
Vì sao kinh tế biển VN chưa phát triển đúng tầm ? Lý giải nguyên nhân này PGS TS Nguyễn Chu Hồi - Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo VN cho rằng“VN thiếu luật pháp cơ bản và thống nhất đối với biển và đảo”.
"Có điều đáng mừng là lâu lắm hệ thống ngân hàng lại quay về trạng thái tăng trưởng huy động vốn cao hơn cho vay", Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu nói khi trả lời phỏng vấn về tình hình điều hành chính sách tiền tệ hiện nay.
Tăng trưởng GDP 6 tháng đầu năm đã chính thức chốt lại con số 6,16%. Bộ Kế hoạch - Đầu tư cũng đã đưa ra nhiều dự báo khả quan về kinh tế Việt Nam trong năm nay. Tuy nhiên vấn đề đặt ra là liệu nền kinh tế có tiếp tục đà hồi phục mạnh mẽ một cách bền vững?
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.