Theo ông Bùi Đức Thụ, việc kiềm chế lạm phát không nên tiếp tục theo cách cố thắt chặt tiền tệ hết mức có thể.
Khẳng định quyết tâm kiềm chế lạm phát của Chính phủ là hoàn toàn đúng đắn, nhưng TS. Bùi Đức Thụ, Ủy viên Thường trực Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội, cho rằng với cách thắt chặt tiền tệ hiện nay sẽ dẫn đến sự ngột ngạt cho cả nền kinh tế.
“Việc cố thắt chặt bằng mọi giá để kiềm chế lạm phát thì cũng có khác nào “bóp nghẹt” nền kinh tế?”, ông nói.
Có ý kiến cho rằng đối với lạm phát năm 2012, chúng ta “ngồi không” thì cũng có thể khiến nó tự hạ. Xin cho biết quan điểm của ông?
Tôi không nghĩ như vậy. Trong các năm 2009 - 2010, tổng phương tiện thanh toán và dư nợ tín dụng tăng quá nhanh, riêng dư nợ tín dụng tăng trên 30%/năm, trong khi tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2009 chỉ tăng 5,32%, năm 2010 tăng 6,78% và năm 2011 tăng 5,89%. Tình hình này đã tác động đến các cân đối lớn của nền kinh tế, đặc biệt đã đẩy lạm phát năm 2011 lên trên 18% so với cuối năm 2010.
Nếu không thực hiện các biện pháp mạnh như thắt chặt tài khóa (giảm chi tiêu công, giảm bội chi ngân sách nhà nước...) và thắt chặt tiền tệ (giảm tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán và tốc độ tăng dư nợ tín dụng) thì lạm phát ở nước ta sẽ ở mức cao hơn nhiều.
Tuy nhiên, nếu chỉ để kiềm chế lạm phát thì quả thực đó là vấn đề không khó, chỉ cần thực hiện một cách quyết liệt việc thắt chặt tài khóa, tiền tệ là có thể đạt được, nhưng để vừa kiềm chế được lạm phát, vừa giữ được sự ổn định và tăng trưởng kinh tế ở mức cao là vấn đề hết sức khó khăn, đòi hỏi chúng ta phải cân nhắc thận trọng đến cách mà chúng ta thực hiện.
Năm 2011, sự giảm mạnh tốc độ tăng trưởng tiền tệ này đã khiến sản xuất kinh doanh của cả nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, nhất là vào cuối quý 3 và đầu quý 4. Việc thắt chặt tiền tệ không chỉ làm cho quy mô tín dụng giảm, các doanh nghiệp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn, mà còn phải chịu mức lãi suất cao, thậm chí có thời điểm lên trên 20%/năm.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế đã giảm mạnh, tăng GDP năm 2011 khoảng 5,89% so với tốc độ tăng trưởng 6,78% của năm 2010.
Nhưng Chính phủ cho rằng trách nhiệm kiềm chế lạm phát sẽ vẫn được trông chờ chủ yếu từ chính sách tiền tệ, mà chính sách tiền tệ, muốn phục vụ cho được mục tiêu kiềm chế lạm phát thì không còn lựa chọn nào khác ngoài sự thắt chặt?
Tôi hoàn toàn đồng tình với quyết tâm kiềm chế lạm phát của Chính phủ, cũng như những giải pháp như Nghị quyết 11/NQ-CP. Tôi cho rằng muốn kiềm chế lạm phát thì phải thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ.
Nhưng để việc thực hiện này có hiệu quả hơn trong năm 2012, không tái diễn tình trạng ngột ngạt của cả nền kinh tế như trong năm 2011, thì Chính phủ cần tổng kết, đánh giá, rà soát, hoàn thiện các giải pháp này một cách căn cơ, khắc phục tận gốc nguyên nhân dẫn đến lạm phát cao.
Ngoài các giải pháp tác động vào sản xuất kinh doanh, bảo đảm cho nền kinh tế hoạt động có hiệu quả hơn; các giải pháp điều tiết thị trường, bảo đảm thông suốt... thì cần tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt.
Trong điều kiện mức cung tín dụng tăng chậm, lãi suất vẫn cao do cầu về tín dụng và lạm phát vẫn ở mức cao thì vấn đề quan trọng là phải cơ cấu lại hệ thống ngân hàng, cơ cấu lại tín dụng. Việc kiềm chế lạm phát không nên tiếp tục theo cách cố thắt chặt tiền tệ hết mức có thể, mà thay vào đó cần có những giải pháp quyết liệt hơn để kiểm soát tình trạng tài chính, chủ động sắp xếp lại các loại hình doanh nghiệp, tái cơ cấu tín dụng và các ngân hàng, các tổ chức tín dụng.
Đó là cách tốt nhất để đảm bảo nguồn vốn vẫn được tiếp tục rót ra phục vụ cho sản xuất kinh doanh mà không làm ảnh hưởng đến lạm phát. Việc cố thắt chặt bằng mọi giá để kiềm chế lạm phát thì cũng có khác nào “bóp nghẹt” nền kinh tế?
Cùng với nhiệm vụ kiềm chế lạm phát thì năm 2012 cũng được Chính phủ xác định là năm bản lề cho quá trình tái cơ cấu nền kinh tế. Hiện đã có lo ngại quá trình này, nếu không thận trọng thì sẽ chỉ là trên giấy. Còn ông?
Việc tái cấu trúc nền kinh tế là một trong những nhiệm vụ quan trọng, bức xúc đang được đặt lên không kém gì so với nhiệm vụ kiềm chế lạm phát vì có tái cơ cấu nền kinh tế mới đảm bảo tăng tính hiệu quả, tính linh hoạt, sức cạnh tranh của nền kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô trong dài hạn, tránh tình trạng năm nào cũng thường trực nỗi lo lạm phát.
Trong tái cấu trúc nền kinh tế, nội dung mà tôi băn khoăn nhất là tái cơ cấu đối với đầu tư công. Hiện nay, nhu cầu vốn đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của nước ta rất lớn nhằm tháo gỡ những “nút thắt” trong nền kinh tế.
Chỉ tính riêng nhu cầu vốn để hoàn thành các dự án, công trình đã khởi công là rất lớn mà khả năng cân đối của Nhà nước chỉ đáp ứng được một phần. Việc chuyển đổi các hình thức đầu tư nhằm thu hút các nguồn lực trong và ngoài nước của các thành phần kinh tế để đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội là cần thiết, là một chủ trương đúng.
Tuy nhiên, để thực hiện được điều này không phải dễ. Cần phải tạo lập cơ chế, chính sách thực sự hấp dẫn mới thu hút được các nguồn lực ngoài Nhà nước, nhất là trong điều kiện vốn đầu tư cơ sở hạ tầng rất lớn, chu chuyển chậm, hiệu quả thấp, đặc biệt ở miền núi, vùng sâu, vùng xa. Nếu không làm được điều đó thì việc cắt giảm đầu tư công chỉ làm tăng các dự án, công trình dang dở, làm giảm hiệu quả đầu tư công mà vốn nó đã thấp, làm giảm tính hấp dẫn của môi trường đầu tư, tác động xấu đến quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Vì vậy, đề nghị Chính phủ, các bộ ngành, địa phương cần biến chủ trương cơ cấu lại đầu tư công thành hiện thực, không dừng lại ở lời nói; muốn vậy, hơn lúc nào hết, cần ban hành ngay các cơ chế, chính sách thích hợp để thực hiện chủ trương này.
Nếu được chấp thuận cho đầu tư, nhiều khả năng sắp tới Việt Nam sẽ đón nhiều dự án casino với số vốn lên tới hàng tỷ USD. Liệu Việt Nam có nên "mở cửa" cho các dự án casino? Trò chuyện với GS.TS Nguyễn Mại, Chủ tịch Hiệp hội DN đầu tư nước ngoài (VAFIE).
TS Trần Đình Thiên cho rằng, với mục tiêu lạm phát dưới 10% nhưng lạm phát phải giảm sâu hơn xuống mức 5 - 7% thì doanh nghiệp mới trụ được trong năm "cắn răng vượt khó" này.
Việt Nam đã bỏ mất nhiều cơ hội do môi trường pháp lý chậm cải thiện, kéo dài chính sách đối xử phân biệt với nước ngoài và chính sách công nghiệp không rõ ràng, thay đổi thường xuyên. Chưa kể, chúng ta còn phải đối mặt với những nguy cơ khi lệ thuộc quá nhiều vào một nền kinh tế.
Trong một thế giới thay đổi nhanh chóng và mạnh mẽ, khi nền kinh tế phát triển đến ngưỡng nhất định thì không thể dựa vào những lợi thế so sánh cũ mà cần tạo lập và phát triển những lợi thế mới. Vì thế, ngay cả khi không có sóng gió nặng nề như mấy năm qua, Việt Nam vẫn phải tái cấu trúc nền kinh tế.
Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Văn Ninh khẳng định: Vượt qua khó khăn, Chính phủ đã, đang và sẽ chèo lái “con thuyền kinh tế VN” vượt đại dương, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, bảo đảm lợi ích quốc gia, đáp ứng niềm tin và sự kỳ vọng của nhân dân cả nước.
2011 là một năm đầy dấu ấn và mang tính bước ngoặt, là thời điểm chín muồi để khởi đầu cho bước đường đổi mới hệ thống tài chính VN trong năm 2012 - 2015.
Trước thềm năm mới Nhâm Thìn, nguyên Phó thủ tướng Vũ Khoan nhận định về năm 2011 và cho rằng năm tới nên là năm nền kinh tế VN chuyển mình theo mục tiêu tái cơ cấu nền kinh tế. "Cái khó chủ yếu do nội tại của chúng ta, nên không thể chờ đợi gì ngoài việc tự thay đổi".
Thị trường vàng trong nước năm 2011 chịu ảnh hưởng không chỉ bởi diễn biến phức tạp của giá vàng quốc tế, mà còn bị chi phối nhiều bởi những thay đổi chính sách. Xu hướng này được nhận định sẽ còn tiếp diễn trong năm 2012.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.