Dự kiến sẽ trình lên Quốc hội trong kỳ họp thứ 8 diễn ra vào cuối năm nay, dự án Luật Viên chức đang là tiêu điểm quan tâm của không ít người dân. Để hiểu rõ về chính sách mới liên quan đến hơn 1,6 triệu viên chức hiện nay, phóng viên Cổng TTĐT Chính phủ đã trao đổi với ông Nguyễn Phước Thọ, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp luật, Văn phòng Chính phủ.
Phóng viên (PV): Thưa ông, ông có thể cho biết vì sao Luật Viên chức đang nhận được sự quan tâm đặc biệt của người dân
Ông Nguyễn Phước Thọ, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp luật, Văn phòng Chính phủ
Phó Vụ trưởng Nguyễn Phước Thọ: Trước đây, viên chức được coi như là một bộ phận của cán bộ, công chức, gắn liền với các chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nước về cán bộ, công chức. Nay, Luật Cán bộ, công chức không điều chỉnh đối với đội ngũ viên chức nữa, mà được tách ra để điều chỉnh theo một chế độ pháp lý riêng, khác về cơ bản với chế độ pháp lý dành cho cán bộ, công chức.
Đây là một dự án Luật quan trọng, phức tạp, tác động trực tiếp đến tâm tư, đến quyền, lợi ích trước mắt cũng như lâu dài của hàng triệu viên chức trong bộ máy Nhà nước hiện nay. Theo số liệu, hiện cả nước có tổng cộng 52.241 đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trên nhiều các lĩnh vực đời sống kinh tế - xã hội.Tính đến năm 2009 tổng số viên chức cả nước là 1.622.255 người.
PV: Như vậy có thể hiểu mục tiêu cơ bản mà Luật Viên chức hướng tới là gì, thưa ông?
Phó Vụ trưởng Nguyễn Phước Thọ: Mặc dù vẫn tiếp tục phải thực hiện tốt sứ mệnh của Nhà nước đối với xã hội là cung cấp các dịch vụ công thiết yếu, nhưng tổ chức và hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công được gắn với sự tác động của các quy luật thị trường, với nhu cầu trực tiếp của xã hội, để qua đó tạo động lực nhằm giải phóng năng lực, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội về chất lượng và sự đa dạng các dịch vụ công.
Dự thảo Luật Viên chức do Chính phủ trình Quốc hội gồm 10 chương, 70 điều quy định về viên chức, về quyền, nghĩa vụ và các điều kiện bảo đảm thực hiện nhiệm vụ của viên chức, về tuyển dụng, sử dụng, quản lý viên chức, về chế độ khen thưởng, đãi ngộ đối với đội ngũ viên chức – những người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trên các lĩnh vực.
Vì vậy, yêu cầu cơ bản đặt ra đối với Luật Viên chức là phải kiên quyếttháo gỡ, loại bỏ những ràng buộc mang tính chất hành chính, tập trung quan liêu bao cấp đối với việc quản lý, sử dụng đội ngũ viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập; đồng thời xác lập các quy định về quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của viên chức, về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức trên một mặt bằng chuẩn mực mới, theo hướng thông thoáng, mềm dẻo, linh hoạt hơn so với cán bộ, công chức.
Đi kèm với đó là việc trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho người đứng đầu các tổ chức sự nghiệp công lập về quản lý nguồn nhân lực, phù hợp với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng của nước ta, nhằm tạo động lực phát huy tối đa tiềm năng của đội ngũ viên chức, góp phần quan trọng, tạo tiền đề tiếp tục đẩy mạnh cải cách, giải phóng nguồn năng lực to lớn của khu vực dịch vụ công trong phát triển kinh tế - xã hội bền vững của đất nước.
Nói ngắn gọn, Luật Viên chức phải tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, vững chắc về quản lý, sử dụng đội ngũ viên chức theo một tư duy mới bảo đảm khu vực này vừa thực hiện ngày càng tốt hơn vai trò, chức năng xã hội của Nhà nước, đồng thời vừa phải gắn với các yêu cầu của cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy xã hội hoá, chủ động hội nhập quốc tế.
PV: Vậy theo ông, Dự luật này đã được hoàn thiện, có đáp ứng được các mục tiêu nêu trên?
Phó Vụ trưởng Nguyễn Phước Thọ: Mục tiêu cơ bản của việc xây dựng Luật Viên chức là tiếp tục đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý, sử dụng viên chức, khắc phục những tồn tại và hạn chế trong quản lý viên chức hiện nay để phù hợp với cơ chế thị trường cạnh tranh, tự chủ, tự chịu trách nhiệm và chủ động hội nhập quốc tế của các đơn vị sự nghiệp công lập; xây dựng đội ngũ viên chức có phẩm chất, có trình độ, năng lực; phát huy mạnh mẽ phẩm chất, tiềm năng, năng lực chuyên môn của đội ngũ viên chức, góp phần phát triển và nâng cao chất lượng, hiệu quả dịch vụ công, đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng lên của xã hội.
Tôi cho rằng, cần phải chỉ rõ và quán triệt một trong những mục tiêu cụ thể của Dự án Luật Viên chức là bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng, phù hợp cho đội ngũ viên chức trong khu vực dịch vụ công, khi tách họ ra khỏi sự điều chỉnh của Luật Cán bộ, Công chức, mà lợi ích này phải lớn hơn lợi ích đã được quy định tại Luật Cán bộ, Công chức hiện đang áp dụng đối với đội ngũ cán bộ, công chức. Đây là mục tiêu đã được Bộ trưởng Bộ Nội vụ thừa uỷ quyền Thủ tướng thay mặt Chính phủ cam kết trước Quốc hội khi thuyết trình để Quốc hội thông qua Luật Cán bộ, Công chức năm 2008.
Luật Viên chức nhằm cải cách khu vực dịch vụ công, nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân của các đơn vị sự nghiệp công lập.
PV: Dự thảo Luật Viên chức đã nhiều lần được chỉnh lý trên cơ sở tham khảo và tiếp thu ý kiến của các cơ quan, tổ chức, các chuyên gia, nhà khoa học, các nhà quản lý và đặc biệt là ý kiến của các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của Dự Luật. Xin ông cho biết những tư tưởng đổi mới của dự thảo Luật này?
Phó Vụ trưởng Nguyễn Phước Thọ: Trong thực tế hơn 10 năm thực hiện Pháp lệnh cán bộ, công chức, thể chế quản lý viên chức và đội ngũ viên chức còn một số hạn chế và tồn tại, như vị trí của viên chức chưa được xác định rõ ràng trong mối quan hệ giữa hành chính nhà nước với sự nghiệp dịch vụ công; chưa có sự phân định giữa hoạt động thực thi công vụ của công chức với hoạt động nghề nghiệp của viên chức; các quy định hiện hành chưa tạo được cơ chế có sức hút mạnh đối với nguồn nhân lực chất lượng cao, tay nghề giỏi vào khu vực sự nghiệp công lập...
Khắc phục được những hạn chế trên, nội dung của dự thảo Luật Viên chức đã khẳng định, thể chế hóa những quan điểm và chủ trương quan trọng của Đảng và Nhà nước ta về đối mới cơ chế quản lý, sử dụng đội ngũ viên chức làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập, đó là:
- Thay đổi phương thức quản lý đối với viên chức, xóa bỏ chế độ biên chế, thực hiện áp dụng triệt để chế độ vị trí việc làm trong tuyển dụng, quản lý, sử dụng viên chức; thực hiện chế độ hợp đồng làm việc trong các đơn vị dịch vụ công thay cho chế độ tuyển dụng suốt đời;
- Thực hiện chế độ, chính sách, nhất là chế độ tiền lương, đối với viên chức gắn liền với kết quả hoạt động của đơn vị sự nghiệp;
- Đề cao và quy định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp trong tuyển dụng, sử dụng, đánh giá viên chức; quản lý tài sản và hoạt động của đơn vị;
- Xác lập một số quyền và nghĩa vụ của viên chức nhằm phát huy tối đa các tiềm năng tri thức, chuyên môn nghề nghiệp của đội ngũ viên chức, trước hết là phát huy tài năng của các chuyên gia, các nhà khoa học; trong đó đáng chú ý trao quyền cho viên chức được hoạt động kinh doanh và làm việc ngoài giờ.
PV: Ông có thể nêu rõ khái niệm viên chức khác với cán bộ, công chức ở điểm nào, để người dân hiểu chính xác về vấn đề này?
Phó Vụ trưởng Nguyễn Phước Thọ: Điểm khác biệt giữa cán bộ, công chức với viên chức là về chế độ tuyển dụng, sử dụng và quản lý. Ngoài việc thi tuyển thì viên chức có thể được xét tuyển. Sau khi trúng tuyển, viên chức được đơn vị sự nghiệp công lập ký hợp đồng làm việc dưới 3 hình thức: hợp đồng không xác định thời hạn, hợp đồng có thời hạn từ 1 – 3 năm và hợp đồng đặc biệt (áp dụng đối với người trúng tuyển viên chức từ 15 đến dưới 18 tuổi).
Cũng giống như Bộ luật Lao động, trong trường hợp có lý do chính đáng, viên chức hoặc người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập sử dụng viên chức có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc. Viên chức có 2 năm liên tiếp không hoàn thành nhiệm vụ thì người đứng đầu đơn vị có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc và giải quyết cho thôi việc theo quy định.
Nhằm tạo điều kiện cho viên chức phát huy hết khả năng, trình độ chuyên môn, tài năng, sức sáng tạo, đem lại thu nhập chính đáng cho họ và phục vụ nhu cầu xã hội, Dự luật cho phép viên chức được quyền góp vốn, tham gia thành lập các loại hình doanh nghiệp, hợp tác xã, trường học, bệnh viện tư và các tổ chức nghiên cứu khoa học tư…; quyền làm việc ngoài giờ; quyền được ký hợp đồng vụ việc với các cơ quan, tổ chức mà pháp luật không cấm.
Viên chức cũng được phép làm tư vấn cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân khác trong và ngoài nước về các công việc có liên quan đến chuyên môn, nghiệp vụ của mình.
PV: Theo ông có những quy định nào cần tiếp tục hoàn thiện nhằm nâng cao chất lượng phục vụ của các đơn vị sự nghiệp công lập – cơ quan làm việc chủ yếu của các viên chức hiện nay?
>
Cần có các chính sách đãi ngộ đối với viên chức
Phó Vụ trưởng Nguyễn Phước Thọ: Dự thảo Luật Viên chức có tới 4 Điều với 22 khoản quy định về nghĩa vụ của viên chức, trong khi Luật Cán bộ, Công chức có 2 điều với 9 khoản quy định về nghĩa vụ của công chức, ngoài ra, viên chức còn phải thực hiện các nghĩa vụ, trách nhiệm buộc phải cam kết trong hợp đồng làm việc với đơn vị dịch vụ công. Như vậy, so với công chức, thì người viên chức phải chịu nhiều hơn những ràng buộc về nghĩa vụ và trách nhiệm. Điều này là chưa hợp lý, vì đáng lý ra viên chức phải là người được "tự do" hơn công chức.
Bên cạnh đó, dự luật cần làm rõ tính chất, đặc điểm của hợp đồng làm việc giữa đơn vị dịch vụ công lập với người được nhận vào làm việc với tư cách là viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập. Không đơn giản coi loại hợp đồng này chỉ là hình thức thay thế cho quyết định tuyển dụng, một văn bản ràng buộc thêm nghĩa vụ và trách nhiệm đối với viên chức, mà về thực chất là trao quyền chủ động cho người đứng đầu đơn vị trong việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý đối với viên chức, nhưng lại chưa tính đến quyền và lợi ích của viên chức trong quan hệ lao động với người sử dụng lao động là người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập. Không thể buộc người viên chức vừa phải thực hiện nhiều nghĩa vụ, quyền hạn theo quy định của Luật Viên chức (tương tự, thậm chí còn nhiều hơn so với các công chức), vừa phải thực hiện các nghĩa vụ, trách nhiệm buộc phải cam kết trong hợp đồng làm việc. Điều này là chưa công bằng.
Dự thảo Luật dành Chương IV quy định về quản lý viên chức với 7 Điều (từ Điều 56 đến Điều 62). Tuy nhiên, những quy định trong Chương này chưa thể hiện rõ việc đẩy mạnh phân cấp. Ngoài ra, theo tôi, dự thảo cần có quy định và quy định cụ thể về chế độ đãi ngộ đối với viên chức.
PV: Chế độ đãi ngộ viên chức cụ thể là như thế nào, thưa ông?
Phó Vụ trưởng Nguyễn Phước Thọ: Thực tế ở một số ngành và lĩnh vực đang có tình trạng “chảy máu” chất xám từ khu vực dịch vụ công sang khu vực tư. Trong đó, ngành giáo dục, đào tạo và y tế là rõ nhất. Hiện thu nhập ở 2 ngành này giữa công và tư đang có khoảng cách rất lớn. Bác sĩ ở bệnh viện tư được trả thù lao cho một ca mổ lên đến cả chục triệu đồng. Trong khi đó, một bác sĩ ở bệnh viện công chỉ được trả vài trăm ngàn đồng. Chính vì vậy, Luật Viên chức cần quy định cụ thể, minh bạch về chế độ, chính sách thu nhập, đãi ngộ đối với viên chức để tạo động lực phát huy tối đa năng lực, trình độ chuyên môn của viên chức, để thu hút và trọng dụng nhân tài, tránh tình trạng cào bằng như hiện nay. Tất nhiên, vì nhiều lý do, không thể nói thu nhập của viên chức trong khu vực công phải ngang bằng với những người làm việc ở khu vực tư, nhưng nếu để quá chênh lệch như hiện nay là điều bất hợp lý và khó chấp nhận.
Qua hơn 10 năm thực hiện Pháp lệnh cán bộ, công chức, đội ngũ viên chức đã được phát triển cả về số lượng, chất lượng, từng bước đáp ứng yêu cầu và đòi hỏi của nhân dân. Số lượng viên chức hiện nay đã tăng hơn 443.000 người so với năm 2000 (1.179.000 người). Luật Viên chức ra đời sẽ tạo cơ sở pháp lý và điều kiện thúc đẩy đội ngũ viên chức tiếp tục phát triển, phát triển nhanh hơn. Đồng thời, hoạt động nghề nghiệp của đội ngũ viên chức sẽ được khẳng định hơn và có cơ hội thuận lợi để phát triển, được tôn vinh trong xã hội, qua đó góp phần phát triển, nâng cao chất lượng các dịch vụ công, thực hiện tăng trưởng kinh tế gắn liền tiến bộ và công bằng xã hội, đồng thời hạn chế những tiêu cực, giảm dần các biểu hiện về thiếu tinh thần trách nhiệm, gây phiền hà, sách nhiễu trong phục vụ người dân ở một bộ phận viên chức.
Phó Giám đốc Sở Xây dựng Hà Nội Nguyễn Quốc Tuấn cho biết: Đây là thực trạng đang xảy ra. Tuy nhiên, thực tế triển khai dự án cần di dân giải phóng mặt bằng thường kéo dài, dẫn đến quỹ nhà mà thành phố đã phân phối cho dự án đó chậm đưa vào khai thác, gây lãng phí.
Phó Chủ tịch Tổng hội Xây dựng VN - Tiến sỹ Phạm Sỹ Liêm cho rằng nếu không có biện pháp hữu hiệu thì vùng vành đai xanh dễ dàng bị cơn sốt bất động sản thôn tính.
Phát triển du lịch sinh thái miệt vườn được xem là một trong những thế mạnh của ĐBSCL nói chung và tỉnh Tiền Giang nói riêng, theo nhận xét của ông Nguyễn Ngọc Minh, Giám đốc Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch Tiền Giang.
Những bất cập trong hoạt động của TCty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước SCIC hay kết quả của những báo cáo tài chính được công khai trên thị trường chứng khoán… cho thấy vai trò quan trọng không thể thiếu của kiểm toán trong sự phát triển của nền kinh tế và hội nhập. Tuy nhiên, đội ngũ kiểm toán viên đã đáp ứng được yêu cầu ?
Dự kiến sẽ có thêm hai công ty cung cấp thông tin tín dụng tư nhân bên cạnh Trung tâm Thông tin tín dụng (CIC) thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang độc quyền trên thị trường.
Trước thông tin Hiệp hội điều Việt Nam (Vinacas) gia nhập Tổ chức hạt và trái cây khô quốc tế (INC) vào tháng 5-2010, Thời báo Kinh tế Sài gòn Online đã có cuộc trao đổi với ông Đặng Hoàng Giang, Tổng thư ký Vinacas xung quanh vấn đề này.
Người nông dân trồng cà phê và doanh nghiệp không tham gia mua tạm trữ cà phê kể từ khi có thông tin Chính phủ có chính sách cho doanh nghiệp lớn mua cà phê tạm trữ cách nay hơn hai tháng, đã lo ngại có thể các doanh nghiệp này dùng lãi suất hỗ trợ của nhà nước để đảo nợ hoặc hợp pháp hóa số cà phê đang tồn trong kho của mình.
Sáng 20.1, tại TP Quy Nhơn, UBND tỉnh phối hợp với Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương cùng Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) tổ chức Hội nghị Xúc tiến đầu tư vào Bình Định năm 2010. Nhân dịp này, PV Báo Bình Định đã phỏng vấn Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Thiện một số vấn đề về công tác thu hút đầu tư vào tỉnh nhà.
“Ai cũng muốn kinh tế tư nhân phát triển, nhưng phải phát triển lành mạnh. Các ông chủ là người quyết định thời điểm thành lập tập đoàn kinh tế tư nhân chứ không phải nhà nước” - TS Nguyễn Đình Cung khẳng định.
Văn bản quy phạm pháp luật có thể giúp “bôi trơn” hoạt động kinh tế, nhưng cũng có thể tạo ra rào cản. Bởi vậy, Đề án 30 về đơn giản hóa thủ tục hành chính đang được kỳ vọng sẽ tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân...
Việc một tổ chức kiểm toán độc lập đầu tiên hoạt động tại Việt Nam từ năm 1991 đánh dấu bước phát triển ban đầu của lĩnh vực này. Sau đó, Chính phủ đã ban hành các nghị định (07/1994, 105/2004, sau đó là các nghị định 133 và 130 nhằm sửa đổi, bổ sung Nghị định 105 - PV) về kiểm toán độc lập.
Hệ số an toàn vốn tối thiểu theo Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN và áp lực tăng vốn điều lệ tại Nghị định 141 là cơ hội để sàng lọc ngân hàng thương mại nhỏ, yếu và đẩy nhanh tiến trình mua bán - sáp nhập (M&A).
Sau khi sự việc nhà máy sản xuất khung nhôm định hình thuộc Công ty Cổ phần Công nghiệp Tung Kuang xả chất thải chưa qua xử lý ra môi trường được phát giác, dư luận đang đặc biệt quan tâm đến hướng xử lý vụ việc này.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.