Theo ông Vũ Bá Phú, điều kiện để áp dụng các biện pháp PVTM bao gồm: Sự gia tăng đột biến của một loại hàng hoá, gây khó khăn, thiệt hại với ngành sản xuất trong nước. Hàng hoá nhập khẩu đó có thể làm DN trong nước bị phá sản, hoặc giảm doanh thu rõ rệt, mất công ăn việc làm của người lao động...
- Trong khi hàng hóa của nhiều DN VN thường xuyên phải đối mặt với các biện pháp PVTM của một số nước thì các DN VN lại chưa tận dụng được lợi thế của biện pháp này ngay trên “sân nhà” ?
Đây là hai mặt của một vấn đề. Trước hết, khi chúng ta dựng hàng rào kỹ thuật thì không được phân biệt đối xử giữa hàng nhập khẩu và hàng sản xuất trong nước, nghĩa là việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật, vệ sinh an toàn thực phẩm... với hàng nhập khẩu như thế nào thì chúng ta cũng phải áp dụng như thế với hàng sản xuất trong nước. Tuy nhiên, do năng lực DN của chúng ta còn hạn chế, chưa thể áp dụng những quy trình sản xuất ở mức cao, mà nếu có tuân thủ sẽ làm đội giá thành, dẫn đến hàng trong nước kém cạnh tranh.
Mặt khác, các nhà sản xuất trong nước có thể chưa thực sự hiểu hết lợi ích, tác dụng của các biện pháp khắc phục thương mại.
- Theo ông những mặt hàng nào của VN hiện nay có thể cần phải áp dụng các biện pháp PVTM trước sự cạnh tranh không lành mạnh của các hàng nhập khẩu ?
Chúng ta có thể thấy một số mặt hàng, sản phẩm trong nước khá phát triển như vật liệu xây dựng: xi măng, gạch ốp lát, thiết bị vệ sinh... Những sản phẩm này hiện nhập khẩu rất nhiều từ Trung Quốc, Tây Ban Nha... Mặc dù ở trong nước cũng có những sản phẩm chất lượng cao, đặc biệt là những DN FDI đầu tư vào lĩnh vực này như Inax, Toto...
Chúng tôi đặt câu hỏi là tại sao các DN cùng sản xuất mặt hàng này lại không ngồi với nhau để rà soát và phân tích liệu rằng những mặt hàng nhập khẩu ấy có nguy cơ đe doạ các mặt hàng sản xuất trong nước hay không ? Đồng thời đề xuất với cơ quan quản lý nhà nước điều tra hoặc có các biện pháp thích hợp để bảo vệ nền sản xuất của mình.
- Tuy nhiên, việc đưa ra các biện pháp PVTM cũng như con dao hai lưỡi, không khéo sẽ khiến các DN trong nước ỷ lại, dẫn đến nguy cơ hàng giảm tính cạnh tranh với hàng nhập khẩu ?
Các DN nên hiểu rằng đây là các công cụ chính sách nhằm điều chỉnh luồng thương mại chứ không phải là các công cụ bảo hộ sản xuất trong nước. Vì vậy, các DN cần nắm được những nguyên tắc sử dụng, áp dụng trong trường hợp nào, thời gian bao lâu, thủ tục đề nghị điều tra áp dụng ra sao... Để các công cụ này thực sự phát huy tác dụng, hỗ trợ tích cực cho sự phát triển của DN chứ không phải là một công cụ để các DN lạm dụng, ỷ lại. Các cơ quan chức năng cũng có trách nhiệm phối hợp với cơ quan truyền thông, hiệp hội ngành hàng tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức cho DN về các công cụ chính sách này.
- Vậy chúng ta rút ra bài học gì từ sự xung đột giữa hai nhóm DN sản xuất và nhập khẩu như trong việc áp dụng các biện pháp PVTM đối với kính nổi năm ngoái, thưa ông ?
Trong trường hợp mặt hàng kính nổi sở dĩ có chuyện xung đột giữa hai nhóm DN, đó là các nhà sản xuất trong nước và các nhà nhập khẩu kính nổi. Rõ ràng, có xung đột lợi ích khi phía các nhà sản xuất trong nước muốn bán được hàng do mình sản xuất ra, còn các nhà nhập khẩu muốn duy trì nhập khẩu thoải mái để bán những mặt hàng của mình nhập khẩu có lợi thế cạnh tranh hơn.
Tương tự như vậy, với ngành thép hiện nay, cũng có một số lượng lớn các DN sản xuất trong nước. Tuy nhiên bên cạnh đó cũng có những DN chuyên nhập khẩu mặt hàng này về bán ở thị trường trong nước.
Theo tôi điều quan trọng là các nhà sản xuất, kinh doanh cùng một mặt hàng nên đẩy mạnh liện kết để tìm giải pháp hài hoá, mang lại lợi ích cho cả hai phía.
- Có ý kiến cho rằng sở dĩ các mặt hàng trong nước luôn chịu “dưới cơ” các mặt hàng nhập khẩu, không tiến hành các biện pháp PVTM có nguyên nhân là do thiếu nguồn lực tài chính ? Ông có nhận định gì về ý kiến này ?
Tôi nghĩ đó chỉ là một trong những nguyên nhân. Sở dĩ các vụ kiện chống bán phá giá của các DN trong nước với hàng nhập khẩu hiện còn ít là do các DN chưa hiểu rõ hết những lợi ích mà các công cụ PVTM mang lại cho DN. Đây là những công cụ rất chủ động, nằm trong tay DN. Ngoài ra, nó hoàn toàn miễn phí, quan trọng hơn nó có thể áp dụng trong thời hạn 5 năm và có thể gia hạn thêm được 10 năm.
Nếu một DN làm ăn bài bản, khi gia nhập thị trường sản phẩm nào đấy họ có thể có những cân nhắc tính toán, có nên bỏ ra chi phí để đề xuất với các cơ quan quản lý nhà nước áp dụng các biện pháp phù hợp với hàng hoá nhập khẩu VN. Theo tôi, khi mà các DN hiểu hết lợi ích của những công cụ chính sách này, chắc chắn sẽ tăng cường sử dụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tôi nghĩ các DN của ta không thiếu nguồn lực, trong số những DN sản xuất những mặt hàng như tôi nói ở trên có nhiều DN lớn, nhiều kinh nghiệm kinh doanh...
- Vậy theo ông tại sao các sản phẩm, hàng hoá XK của VN luôn bị các nhà nhập khẩu nước ngoài kiện, đưa ra các hàng rào kỹ thuật khiến hàng XK luôn gặp khó khăn ?
Các DN nước ngoài họ làm ăn bài bản, luôn chủ động tìm đến các cơ quan chức năng yêu cầu điều tra, bảo vệ quyền lợi ích hơp pháp của mình. Chính vì vậy mà số lượng các vụ việc đưa ra luôn nhiều hơn ở VN. Bên cạnh đó, đứng về phía nguồn lực của cơ quan chức năng ở nước ngoài họ có kinh nghiệm hơn, có nguồn lực lớn hơn. Các cơ quan này ở nước ngoài thường ra đời sớm, nhiều nước thành lập ngay khi thành lập WTO, hoặc thành lập từ ngày thành lập GATT (tổ chức tiền thân WTO– PV). Hơn nữa, số lượng cán bộ, nhân viên điều tra lớn, ví dụ ở EU có tới hàng trăm người, ở Mỹ có hàng ngàn người... Trong khi đó ở VN cơ quan này chỉ có Cục quản lý cạnh tranh (Bộ Công Thương) mới ra đời từ năm 2006. Riêng bộ phận điều tra các biện pháp PVTM chỉ có 10 người, làm nhiều việc từ khởi kiện, theo kiện, kháng kiện... nên gặp không ít khó khăn.
Chương trình bán hàng giảm giá cho du khách, một trong những hoạt động chính của chương trình kích cầu du lịch "Việt Nam - Điểm đến của bạn", theo kế hoạch là diễn ra vào tháng 8 và 9-2010 tại ba thành phố lớn gồm Hà Nội, TPHCM và Đà Nẵng.
Việt Nam có nhiều DN dịch vụ logistics nhưng đa phần là DN nhỏ, chỉ dừng lại ở vai trò cung cấp dịch vụ vệ tinh cho các hãng nước ngoài trong chuỗi hoạt động, như làm thủ tục hải quan, cho thuê phương tiện vận tải, kho bãi.
“Sau ba năm gia nhập WTO, Việt Nam đang đứng trước hàng loạt nghịch lý phát triển rất khó giải thích. Đến lúc cần đánh giá lại một cách nghiêm túc năng lực hội nhập của Việt Nam”.
Mỗi loài sinh vật mất đi thì không bao giờ trở lại. Mỗi loài biến mất trong tự nhiên, đồng nghĩa với việc mất đi một mắt xích giúp duy trì sự sống trên trái đất.
Ngày 8/8/2010, Nghị định 71/2010/NĐ-CP thay thế Nghị định 90/2006/NĐ-CP về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật nhà ở đã chính thức có hiệu lực. Nhiều ý kiến cho rằng, Nghị định 71 có nhiều điểm mới, cụ thể và sẽ làm minh bạch thị trường BĐS.
Ông Trương Đình Tuyển cho rằng: "Cần phải khởi động, phải quyết tâm tái cấu trúc nền kinh tế. Vì đây là một giải pháp quan trọng để phát triển nhanh và bền vững. Tôi tin Đại hội sẽ quyết định. Và, với không khí Đại hội sẽ chuyển từ quyết tâm sang hành động".
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng 7-2010 tại TPHCM giảm 0,09% so với tháng trước. Đây là tín hiệu đáng mừng, cho thấy các giải pháp kiềm chế lạm phát đã phát huy tác dụng. TPHCM sẽ làm gì để giữ chỉ tiêu năm 2010 ở mức 7% như kỳ vọng? PV Báo SGGP đã trao đổi với Phó Chủ tịch UBND TPHCM Nguyễn Thị Hồng (ảnh) để làm rõ những nội dung này.
"Khi lao động thất nghiệp giảm, có nghĩa là cơ hội việc làm lớn và ngược lại, đâu cần quan tâm một năm anh cần tạo bao nhiêu việc làm mới", nguyên Viện trưởng Viện Khoa học lao động và xã hội Nguyễn Hữu Dũng nói với VnEconomy.
Đó là nhận định của TS Lê Xuân Nghĩa, Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, khi trao đổi với phóng viên Báo Người Lao Động xoay quanh mục tiêu tăng trưởng kinh tế của năm 2010
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.