Nga là thị trường có tính truyền thống cũng như không quá khắt khe về chất lượng hàng hoá. Tuy nhiên, hiện tỷ trọng hàng VN xuất khẩu vào thị trường rộng lớn này còn quá thấp. Làm thế nào để đưa hàng hoá vào thị trường này nhiều hơn ?
PV đã có cuộc trao đổi với ông Phạm Quang Niệm - Trưởng phòng Nga - SNG (Vụ thị trường Châu Âu - Bộ Công Thương) xung quanh vấn đề này.
Ông Niệm cho biết, theo kế hoạch đề ra thì năm 2010 kim ngạch thương mại hai chiều giữa Nga và VN đạt khoảng 550 triệu USD. Con số này sẽ đạt 3 tỷ USD vào năm 2012, và 10 tỷ USD năm 2020. Thị trường Nga hiện là thị trường hấp dẫn nhưng không dễ dàng gì có thể đưa hàng vào được nếu không đi đúng hướng. Để có thể đưa hàng vào thị trường này nhiều hơn, hai bên đang nghiên cứu tiền khả thi về Hiệp định thương mại tự do với Nga. Bên cạnh đó, VN cũng đang xúc tiến xây dựng trung tâm thương mại tại Nga nhằm đẩy mạnh việc đưa hàng hoá vào thị trường này.
- Ông có thể nói rõ hơn về dự án trung tâm thương mại Việt tại Nga cũng như tính khả thi của dự án này ?
Chúng tôi có làm việc với đại diện thương mại Nga tại Hà Nội và được thông báo là phía bạn cũng mong muốn VN có một trung tâm như vậy để tăng cường thương mại. Trung tâm này có chức năng thương mại, đồng thời là nơi tiếp nhận, đóng gói, chuyển hàng đi phân phối qua các kênh tiêu thụ trong thị trường Nga. Đây thực chất là một khu công nghiệp mà DN VN thuê đất, thuê hạ tầng, xây dựng kho ngoại quan, sản xuất, chế biến, đóng gói... Hiện chúng tôi đang phối hợp để thực hiện dự án nhanh hơn. Hiện nay có địa điểm có thể xây dựng trung tâm, cách Moscow khoảng 101 km, với diện tích khoảng 30 ha, rất thuận tiện giao thông, đường sắt, đường bộ... giá cũng hợp lý, DN ta có thể chấp nhận được. Một số DN trong nước và một số DN Việt kiều đang rất quan tâm tới dự án này. Phía bạn cũng cho biết sẽ có nhiều ưu đãi để VN thực hiện dự án.
- Thưa ông, thị trường Nga rộng lớn và không quá khó tính nếu so sánh với thị trường EU, Nhật Bản... Nhưng hiện kim ngạch XK hàng hóa VN sang thị trường này còn rất nhỏ, xin ông cho biết nguyên nhân hạn chế này ?
Trước kia thị trường Nga có một số rủi ro khi XK hàng hoá sang, mặc dù đây là thị trường mở và đã có DN VN XK sang đây thành công. Nhưng dù sao một số DN vẫn còn tâm lý lo lắng về sự thiếu ổn định trong việc kinh doanh. Điều này khiến DN VN chú ý hơn vào những thị trường tương đối ổn định như thị trường EU, ASEAN... Tôi cho rằng, hiện nay thị trường Nga rất tiềm năng và đang có nhiều cơ hội để DN VN tăng cường thâm nhập.
- Hiện có tình trạng là nhiều DN rất muốn XK vào thị trường Nga nhưng thông tin lại rất thiếu và đã có DN XK hàng chưa đạt tiêu chuẩn chất lượng. Theo ông DN cần làm gì khi tiếp cận thị trường Nga ?
DN VN vẫn có tâm lý cũ cho rằng người Nga là thị trường tiêu dùng khó tính. Vì vậy có số ít DN chưa cập nhật các tiêu chí, tiêu chuẩn và đã vấp phải sự từ chối của người tiêu dùng Nga. Thị trường Nga chưa chuẩn hoá như EU, DN liên hệ trên Internet chỉ là phần nhỏ, DN muốn đưa hàng vào Nga nhất thiết phải tham gia các hội chợ XTTM, khảo sát thị trường, giới thiệu bạn hàng trực tiếp... Thị trường Nga và EU là hai cấp độ khác nhau, nếu DN áp dụng cách tiếp cận thị trường Nga giống như với EU, Nhật Bản sẽ khó thành công. Về thanh toán, hiện khá tiện lợi, mở LC cũng có, hiện chi nhánh Ngân hàng Nga Việt đã mở chi nhánh tại Moscow nên rất dễ dàng cho việc thanh toán. Việc XK vào Nga DN VN còn gặp những khó khăn như: cơ chế thanh toán, đặc biệt là với DN nhỏ và vừa, thanh toán bằng tín dụng thư L/C ít phổ biến. Việc áp dụng hàng rào thuế quan và phi thuế quan để điều tiết XK, NK còn khá phổ biến và khó dự báo trước (ví dụ việc đưa ra lệnh hạn chế NK nông sản, hải sản và thịt đông lạnh).
- Thưa ông, hai nước đã triển khai vấn đề đổi hàng, việc này nay được thực hiện ra sao ?
Việc đổi hàng giữa hai bên đã được thực hiện tốt khoảng 5 năm trước đây. Tuy nhiên, việc nhận thức về vấn đề giữa hai bên còn những điểm khác nhau do đó hiện nay không còn thực hiện nhiều. Tuy nhiên, tôi cho rằng việc đổi hàng là một hoạt động quan trọng mà thông qua đó VN sẽ tăng cường XK hàng sang thị trường Nga.
Theo Bộ Công Thương, hàng XK của VN vào Nga chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng giá trị NK của Nga. Năm 2009 hàng XK VN mới chiếm 0,24% hàng NK của thị trường này. Trong 415 triệu USD hàng VN XK vào Nga năm 2009, thuỷ sản là 88 triệu USD, dệt may 56 triệu USD, giày dép 29 triệu USD, chè 27 triệu USD, cà phê 22 triệu USD, gạo 37 triệu USD, rau quả 34 triệu USD...
- Thời gian qua, thuỷ sản nổi lên là một trong những mặt hàng có nhiều triển vọng XK vào Nga. Ông đánh giá thế nào về XK nhóm hàng này vào Nga thời gian tới ?
Năm 2009 VN mới XK được 88 triệu USD thuỷ sản vào Nga. Đây là con số rất nhỏ, đặc biệt là mặt hàng cá ba sa, cá tra. Những tháng đầu năm 2010 cho thấy việc XK thuỷ sản vào Nga đang tiến triển tốt, hứa hẹn một mức tăng trưởng rất cao. Chúng tôi đã có lưu ý các DN thuỷ hải sản VN chú ý về chất lượng, về quy định luật pháp trong kinh doanh, thị hiếu tiêu dùng...
- Chúng ta có lợi thế là có lực lượng bà con Việt kiều ở Nga khá đông đảo. Theo ông, chúng ta cần làm gì để tận dụng tiềm năng này nhằm đẩy mạnh XK cũng như kinh doanh của DN VN tại Nga ?
Không chỉ Bộ Công Thương mà các cấp lãnh đạo VN rất quan tâm đến vấn đề này. Theo Nghị quyết 36, thì số người VN tại đây rất quan trọng, chúng tôi coi đó là cầu nối để phát triển kinh tế thương mại giữa hai nước. Thực tế “cầu nối” này đã thể hiện rất tốt vai trò ấy. Nay trước nhu cầu phát triển của DN và nhu cầu lao động của bà con chúng tôi sẽ tìm nhiều giải pháp để thúc đẩy tiềm năng này.
Về vấn đề, người lao động VN ở Nga - làm sao để kinh doanh, lao động ổn định và tuân thủ pháp luật là những nội dung mà Đại sứ quán VN tại Nga và các cấp lãnh đạo VN rất quan tâm. Phía bạn đã hứa trong khuôn khổ pháp luật của Nga, phía bạn sẽ tạo mọi điều kiện thuận lợi, hy vọng từng bước tháo gỡ những trở ngại, người Việt tại Nga sẽ đẩy mạnh sản xuất kinh doanh cũng như tăng cường XK hàng VN sang thị trường này.
Một số thách thức mới liên quan đến nợ công tại khu vực châu Âu đang ảnh hưởng đến các nền kinh tế tại khu vực này, nhưng điều này sẽ không làm giảm mối quan tâm của các doanh nghiệp Đức đến thị trường Việt Nam.
Ông Nguyễn Trọng Hạnh, Phó Cục trưởng Cục Thuế TP.HCM, trao đổi với baodautu.vn nhân dịp tuần lễ "Lắng nghe ý kiến người nộp thuế" vừa được tổ chức.
Ông Wayne Spittle, Phó chủ tịch cấp cao và Giám đốc điều hành khu vực châu Á Thái Bình Dương của Philips Electronics trao đổi với baodautu.vn về một số thông tin liên quan đến việc mở rộng hoạt động tại Việt Nam của hãng.
Từ giữa năm ngoái, hàng loạt hãng tàu tên tuổi trên thế giới đã khai trương tuyến vận chuyển hàng xuất khẩu Việt Nam trực tiếp đi Mỹ từ cảng nước sâu Cái Mép ở Bà Rịa-Vũng Tàu, thay vì trung chuyển bằng tàu con tới các cảng trung chuyển Singapore.
Việt Nam đang đứng trước khả năng phải chấp nhận hạ chỉ tiêu bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp, khu chế xuất. Trong khi việc xử lý các doanh nghiệp vi phạm nghiêm trọng pháp luật về bảo vệ môi chưa được xử lý triệt để thì việc dự kiến hạ thấp chỉ tiêu bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp, khu chế xuất có thể gây ra những hiệu ứng không tốt.
Tình trạng khai thác khoáng sản đang diễn ra tràn lan trên khắp cả nước. Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, ông Hà Văn Hiền khẳng định, tình trạng này sẽ được chấn chỉnh khi Luật Khoáng sản (sửa đổi) có hiệu lực. Tuy nhiên, ông cũng cho rằng, “chấn chỉnh không có nghĩa là đóng cửa”.
Mặc dù không đánh thuế đối với nhà ở của tổ chức, cá nhân, nhưng trao đổi với phóng viên Báo Đầu tư tại hành lang Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh cho biết, không vì thế mà ngân sách không điều tiết được đối với những người sở hữu nhiều nhà ở có giá trị lớn.
Những công cụ để kiểm soát thị trường của chúng ta hiện quá nghèo nàn. Chỉ riêng với giá sữa, bao nhiêu khúc mắc, bao nhiêu bức xúc, bao nhiêu bất cập đều được kỳ vọng vào việc chờ thay đổi nội dung của một cái thông tư!
PSG TS. Trần Hoàng Ngân, Phó hiệu trưởng Đại học Kinh tế TP.HCM, đồng thời là thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia cho rằng, nếu không có sự can thiệp của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), thì tỷ giá hối đoái trong thời gian qua có thể còn giảm.
Nhận chức Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) tại giai đoạn hậu suy thoái kinh tế toàn cầu, ông Đỗ Nhất Hoàng có những vấn đề riêng phải giải quyết.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.