"Khi lao động thất nghiệp giảm, có nghĩa là cơ hội việc làm lớn và ngược lại, đâu cần quan tâm một năm anh cần tạo bao nhiêu việc làm mới", nguyên Viện trưởng Viện Khoa học lao động và xã hội Nguyễn Hữu Dũng nói với VnEconomy.
Có ý kiến cho rằng, mục tiêu tạo việc làm mới mà Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hàng năm rất cao, nếu năm nào mục tiêu này cũng hoàn thành thì đến nay mình đã phải nhập khẩu lao động, ông nghĩ sao?
Đấy là chỉ tiêu gây nhiều tranh cãi từ trước đến nay, ví dụ năm 2009, mục tiêu đặt ra là tạo 1,7 triệu việc làm mới, năm nay mục tiêu này cũng gần 1,6 triệu.
Số việc làm được tạo mới từ trước đến nay được tính trên hệ số co giãn việc làm trong GDP. Ví dụ, GDP năm nay là 9%, hệ số co giãn việc làm 0,3%, vậy cứ 1% tăng GDP thì tạo được 0,34% việc làm mới, đem nhân với lực lượng lao động sẽ ra 1 % GDP tạo được bao nhiêu việc làm mới cho lao động.
Khi GDP đi xuống thì việc làm sẽ bị giảm. Tuy nhiên, ở Việt Nam chúng ta còn phải tính đến cả chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm, suất đầu tư cho một việc làm là bao nhiêu và hàng năm giải ngân được bao nhiêu, cộng cả số lao động đi làm việc ở nước ngoài.
Vì thế, cách tính này cũng chỉ tương đối mà thôi. Các con số ở Việt Nam trừ trước đến nay vẫn còn mang nặng hình thức, mang tính chất báo cáo là chính.
Hàng năm, chúng ta vẫn công bố về tỷ lệ lao động thất nghiệp trong độ tuổi ở khu vực thành thị mà ít nhắc đến con số cụ thể về lao động thất nghiệp nói chung trên cả nước?
Thực tế hàng năm chúng ta đều có điều tra về thị trường lao động, để biết lực lượng lao động bao nhiêu, lao động có việc làm bao nhiêu, thất nghiệp bao nhiêu và thiếu việc là bao nhiêu…
Nhiệm vụ này trước đây của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, bây giờ Tổng cục Thống kê đảm nhận. Cách tính này được áp dụng theo kiểu điều tra theo mẫu của 110 nghìn hộ, từ đó suy rộng ra, chứ không phải là con số thống kê từ dưới lên.
Khi công bố, Bộ chỉ công bố tỷ lệ thất nghiệp là bao nhiêu % trong độ tuổi ở khu vực thành thị vì thất nghiệp chỉ xảy ra ở khu vực thành thị, nơi dễ và có điều kiện quản lí hơn, không xảy ra ở vùng nông thôn rộng lớn. Ở nông thôn không có lao động thất nghiệp mà chỉ là thiếu việc làm.
Vì thế, khi công bố tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị, chúng ta cũng dễ dàng tính được số lao động thất nghiệp cụ thể nói chung, lấy lực lượng lao động trong độ tuổi nhân với tỷ lệ thất nghiệp sẽ ra thôi.
Để đánh giá về tình hình lao động và việc làm trong nền kinh tế, chúng ta cần biết thêm một tiêu chí khác là tỷ lệ lao động thiếu việc làm. Ông có thể nói thêm về tiêu chí này?
Đây là tiêu chí rất quan trọng. Ở Việt Nam, tỷ lệ lao động thiếu việc làm thường cao hơn nhiều so với tỷ lệ thất nghiệp. Năm 2008, tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam là 4,65%, tăng 0,01% so với năm 2007, trong khi đó, tỷ lệ lao động thiếu việc làm là 5,1%, tăng 0,2% so với năm 2007.
Tuy nhiên, như tôi đã nói ở trên, tất cả những con số điều tra ở Việt Nam đều mang tính chất “bốc thuốc”. Hàng năm chúng ta chỉ có một lần điều tra thực trạng lao động vào 1/7, trong khi số lao động thiếu việc làm chỉ tạm thời và luôn luôn dịch chuyển.
Có thể ở thời điểm điều tra, anh không đi làm vì chưa có việc, nhưng anh có thể tìm thấy việc làm ngay sau đó. Vì thế, nếu muốn chính xác, công tác điều tra phải được thực hiện theo quý. Trên thế giới, người ta thường quan tâm và công bố chỉ số thất nghiệp, chỗ làm trống, thì ở mình lại chú trọng vào mục tiêu tạo việc làm mới?
Số lao động thất nghiệp phản ánh chính xác nhất về thị trường lao động, vì thế chỉ cần quan tâm đến lao động thất nghiệp là đủ.
Khi lao động thất nghiệp giảm, có nghĩa là cơ hội việc làm lớn và ngược lại, đâu cần quan tâm một năm anh cần tạo bao nhiêu việc làm mới, bởi nắm cái anh thất nghiệp một cách chính xác thì biết ngay lượng việc làm mới.
Ngoài ra, tập trung vào giải quyết thất nghiệp, tức là giải được bài toán sản xuất, tăng trưởng. Còn cái anh tạo việc làm mới nó không thực chất, không cụ thể và thực tế.
Ở Mỹ và một số nước, họ có cách tính tỷ lệ thất nghiệp rất chính xác, điều tra hàng tháng. Họ có các trạm quan sát về thị trường lao động. Họ tính số lượng lao động từng vùng và sẽ đặt trạm quan sát sao cho hợp lý để điều tra cung cầu lao động, từ đó tính được số lao động thất nghiệp.
Ví dụ ở Hà Nội với một lưu lượng dân số thế này, một lưu lượng lao động như thế, thì cần bao nhiêu trạm qua sát và cần bao nhiêu mẫu điều tra. Nếu đặt ở Hà Nội 5 trạm quan sát và mỗi trạm quan sát được 100 lao động, tại thời điểm nếu chỉ có 90 người đi làm thì 10 người còn lại là không có việc làm, vậy tỷ lệ thất nghiệp của trạm này là 10%.
Khi tổng hợp cả 5 trạm thì sẽ phản ánh được tình hình thất nghiệp của địa phương đó là bao nhiêu người, bao nhiêu %... một cách rất chính xác.
Sao mình không áp dụng theo cách đó, thưa ông?
Chúng ta đã từng thí điểm mô hình này tại Nghệ An rất thành công, nhưng không nhân rộng ra. Không phải chúng ta không muốn làm mà là chưa làm được. Lý do thì có nhiều, thiếu nhân lực, chuyên môn, không có kinh phí để duy trì...
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng 7-2010 tại TPHCM giảm 0,09% so với tháng trước. Đây là tín hiệu đáng mừng, cho thấy các giải pháp kiềm chế lạm phát đã phát huy tác dụng. TPHCM sẽ làm gì để giữ chỉ tiêu năm 2010 ở mức 7% như kỳ vọng? PV Báo SGGP đã trao đổi với Phó Chủ tịch UBND TPHCM Nguyễn Thị Hồng (ảnh) để làm rõ những nội dung này.
Ông Trương Đình Tuyển cho rằng: "Cần phải khởi động, phải quyết tâm tái cấu trúc nền kinh tế. Vì đây là một giải pháp quan trọng để phát triển nhanh và bền vững. Tôi tin Đại hội sẽ quyết định. Và, với không khí Đại hội sẽ chuyển từ quyết tâm sang hành động".
Ngày 8/8/2010, Nghị định 71/2010/NĐ-CP thay thế Nghị định 90/2006/NĐ-CP về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật nhà ở đã chính thức có hiệu lực. Nhiều ý kiến cho rằng, Nghị định 71 có nhiều điểm mới, cụ thể và sẽ làm minh bạch thị trường BĐS.
Đó là nhận định của TS Lê Xuân Nghĩa, Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, khi trao đổi với phóng viên Báo Người Lao Động xoay quanh mục tiêu tăng trưởng kinh tế của năm 2010
Ngày 20/7 tới đây, thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ chính thức lên 10! Một chặng đường chưa đủ dài, nhưng cũng không quá ngắn để nhìn nhận và có những cảm quan...
Trung Quốc sẽ phải đấu dịu sau đó, nếu không thì khó có thể ai chơi với Trung Quốc được. Bối cảnh hiện nay tạo cho Việt Nam một thời cơ hiếm có để giành được sự ủng hộ của thế giới bên ngoài và hậu thuẫn của nhân dân trong nước - Giáo sư Ngô Vĩnh Long nhận định.
Ông Trương Đình Tuyển cho rằng: “Khuyết điểm của Việt Nam là đã để mô hình phát triển theo chiều rộng quá lâu. Căn nguyên ở chỗ chúng ta đã không tạo ra thể chế để có thể chuyển ngay được. Cho nên tới đây, cái nào chuyển nhanh sang chiều sâu thì phải chuyển ngay, cái nào chưa có điều kiện phải chấp nhận để chuyển dần”.
Kích cầu thị trường xi-măng nội địa là một trong các giải pháp ưu tiên để “hạ nhiệt” cán cân cung-cầu và giảm lượng tồn kho của các doanh nghiệp kinh doanh xi-măng trong cả nước. Đó là lời khẳng định của ông Lê Văn Tới (ảnh), Vụ trưởng Vụ Vật liệu xây dựng, Bộ Xây dựng khi trao đổi với phóng viên Báo Nhân Dân.
Trước thềm Đại hội Đảng bộ huyện Nam Đàn lần thứ 25, Phó bí thư huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện Nam Đàn, ông Thái Văn Nông đã trao đổi với phóng viên Báo Đầu tư về những mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của huyện nhà trong 5 năm tới.
Vì sao kinh tế biển VN chưa phát triển đúng tầm ? Lý giải nguyên nhân này PGS TS Nguyễn Chu Hồi - Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo VN cho rằng“VN thiếu luật pháp cơ bản và thống nhất đối với biển và đảo”.
"Có điều đáng mừng là lâu lắm hệ thống ngân hàng lại quay về trạng thái tăng trưởng huy động vốn cao hơn cho vay", Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu nói khi trả lời phỏng vấn về tình hình điều hành chính sách tiền tệ hiện nay.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.