Mới đây, Nghị quyết phiên họp tháng 8 của Chính phủ nêu rõ: Lãi suất cho vay hiện vẫn đang ở mức cao. Như vậy, cho tới hiện tại, bài toán hạ lãi suất của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) xem ra vẫn chưa có lời giải cụ thể. Vấn đề này, phóng viên đã trao đổi với ông Lê Đức Thúy, Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia.
Theo ông, đâu là rào cản khiến lãi suất không thể giảm theo chủ trương của Chính phủ (lãi suất cho vay khoảng 12%/năm) trong thời gian qua?
Lãi suất vẫn đứng ở mức khá cao thời gian qua do nguồn vốn hệ thống NH không được lưu thông, cung - cầu vốn không tự điều chỉnh để đưa giá vốn trở về với mức giá cân bằng. Những quy định như: vốn huy động trên thị trường 2 không được lớn hơn 20% vốn huy động trên thị trường 1, khiến các NH không thể vay mượn lẫn nhau, dòng vốn bị ách tắc. Thêm vào đó, vừa qua Thông tư 13 “siết” quá chặt các tỷ lệ an toàn hệ thống có thể làm triệt tiêu động lực kinh doanh của các NH, nguồn vốn cho vay trở nên khó khăn hơn... Những rào cản trên đã và đang làm ách tắc đến sự vận hành của luồng vốn và đương nhiên giá vốn sẽ không rẻ được. Theo số liệu của Ủy ban Giám sát, 8 tháng, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống mới chỉ đạt khoảng 15% và cung tiền M2 (gồm tổng tiền mặt và tiền gửi NH) khoảng 13%, so với chỉ tiêu 25% và 20% có thấp không, thưa ông?
Mức tăng trưởng tín dụng thấp hay cao chỉ là tương đối, do còn tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể. Cần nhìn tăng trưởng tín dụng so với tăng trưởng GDP. Nếu GDP tăng trưởng tốt thì không phải hối thúc tín dụng. Về cung tiền M2, con số 13% không nhiều và không ít so với chỉ tiêu 20%. Với tốc độ tăng tín dụng như vậy và GDP như hiện nay, cùng tổng phương tiện thanh toán 13%, cái mà tôi lo ngại, từ cuối năm nay tới đầu 2011 sẽ bị mất đà tăng trưởng, quá trình phục hồi nền kinh tế rồi sẽ vất vả hơn. Mấu chốt của việc hạ lãi suất do vốn bị ách tắc, vậy dòng vốn này đã chảy đi đâu?
Theo tôi nguồn vốn này đang chảy vào trái phiếu, chủ yếu là trái phiếu chính phủ. Các NH mua trái phiếu chính phủ, sau đó tái chiết khấu trở lại với NHNN để vay tái cấp vốn với lãi suất rẻ. Những NH này đang đầu cơ ra 2 kênh. Một là đầu cơ trên vai ngân sách, mặc dù nhìn vào thấy NH huy động 11,2%, mua trái phiếu chính phủ 10% là lỗ 1%, nhưng thực tế NH lại dùng trái phiếu này vay tái chiết khấu của NHNN chỉ có 7%, và được lợi 2%. Đó là cách NH kinh doanh thời gian qua, nguồn lợi lớn nên họ không mặn mà với tín dụng là điều dễ hiểu. Vậy có biện pháp nào để khơi thông dòng vốn này, thực hiện mục tiêu hạ lãi suất không, thưa ông?
Ngay từ đầu năm tôi đã từng kiến nghị với chính phủ có thể tính đến giải pháp NHNN trực tiếp mua trái phiếu chính phủ. Vì lúc đó Bộ Tài chính bán trái phiếu gọi vốn để đầu tư nhưng không bán được. Vì vậy, việc cố nâng lãi suất trái phiếu như vừa qua đã làm cho mặt bằng lãi suất thị trường dâng lên và không hạ được lãi suất theo chủ trương của Chính phủ. NHNN có thể mua có kỳ hạn trái phiếu dài hạn của Chính phủ (dưới 1 năm). Chẳng hạn Bộ Tài chính bán lãi suất 10%, NHNN chỉ cần mua với giá 8%, như vậy Nhà nước được lãi 2%. Bằng cách này, kho bạc không phải chịu áp lực quá lớn khi đem trái phiếu ra huy động vốn trên thị trường, còn NHNN cũng có thể dùng trái phiếu đó khi cần để hút vốn trên thị trường. Nếu không cần hút thì đáo hạn trong thời hạn đã cam kết với kho bạc và Bộ Tài chính sẽ mua lại. Khi Bộ Tài chính mua lại có thể huy động rải ra, không dồn vào một lúc, như vậy sẽ không tạo ra áp lực tăng cầu trên thị trường, làm cho giá vốn tăng. Cả ngân sách và NHNN đều có lợi. Còn như hiện nay cái lợi đó đang chui vào túi của các NH thương mại lớn, có tiềm lực mạnh, trong khi lãi suất vẫn cứ đứng ở mức cao.
Trong thời gian qua, đã có nhiều dự án bị rút giấy phép, trong đó có những dự án lên tới vài tỷ USD.Nhiều chuyên gia lên tiếng về hiện tượng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có dấu hiệu bất ổn.
Những công bố gần đây cho thấy, doanh nghiệp (DN) nước ta đầu tư cho KHCN chỉ bằng 1/3 so với các nước phát triển và 80% không có chiến lược đầu tư cho KHCN. DN cũng chỉ dành 0,2-0,3% doanh thu cho đầu tư đổi mới công nghệ, trong khi chỉ số này ở Ấn Độ, Hàn Quốc lần lượt là 5% và 10%.
Đề cập một số vấn đề liên quan đến việc chuyển đổi mô hình doanh nghiệp nhà nước, chuyên gia kinh tế - tài chính cao cấp, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế - Ngân sách của Quốc hội, ông Đặng Văn Thanh cho rằng, vẫn còn phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế, cho dù các cơ chế, chính sách đã tạo ra sự bình đẳng trong môi trường đầu tư.
“Theo quan sát của cá nhân tôi, một số doanh nghiệp sữa ngoại lợi dụng thị trường Việt Nam đang có tiềm năng và cũng rất mới mẻ để tăng giá bất hợp lý. Điều quan trọng là chúng ta phải kiểm soát được giá sữa qua biên giới”.
Nghị quyết 48-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đang trong quá trình sơ kết. Một trong những vấn đề được đặt ra là thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Thiên tai ở nhiều nước sản xuất lương thực lớn trên thế giới như Nga, Ấn Độ, Trung Quốc... đã gây biến động và đẩy giá nông sản trên thế giới tăng cao, đồng thời tác động đến giá nông sản trong nước, kéo theo việc tăng giá và đầu tư vào nông nghiệp hấp dẫn hơn.
Ông Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên - Môi trường chia sẻ về những kẽ hở trên thị trường bất động sản trong nước và ảnh hưởng của quy hoạch Hà Nội đến sự phát triển của thị trường, đặc biệt là định hướng phía Tây.
Cuối tháng 8-2010, tổ chức xếp hạng tín dụng quốc tế Fitch Ratings đã đánh tụt hạng tín nhiệm của hai ngân hàng là Vietcombank (VCB) và Á Châu (ACB). Trước đó, Fitch đã hạ bậc tín nhiệm tín dụng dài hạn của VN.
Tổ chức xếp hạng tín dụng Fitch Ratings vừa công bố hạ định mức tín nhiệm của Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) và Ngân hàng TMCP Ngoại thương VN (VCB) từ mức D xuống D/E.Chúng tôi có cuộc trao đổi với ông Lê Xuân Hải, Tổng Giám đốc ACB, để làm rõ hơn vấn đề này.
Hiện nay NLSH được sử dụng phổ biến ở hơn 50 quốc gia trên thế giới. Các nước Mỹ, Nhật Bản, các nước châu Âu đều có kế hoạch sản xuất nhiên liệu thay thế ở quy mô lớn để đáp ứng nhu cầu sử dụng NLSH ngày càng tăng.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.