Dự thảo Luật NHNN VN (sửa đổi), Luật các Tổ chức tín dụng (sửa đổi) đã được đưa ra thảo luận tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XII. Dự kiến, đây là hai trong 10 dự án luật được thông qua tại kỳ họp này. Tuy nhiên, với lĩnh vực có tác động rất lớn đến hoạt động của nền kinh tế, Dự thảo Luật (sửa đổi) vẫn còn nhiều điểm còn bàn cãi.
PV có cuộc trao đổi cùng TS Nguyễn Đại Lai - chuyên gia kinh tế xung quanh vấn đề này.
- Là một chuyên gia có nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực ngân hàng, theo ông, Dự thảo Luật NHNN và Luật các Tổ chức tín dụng (TCTD) (sửa đổi) còn những điểm gì cần phải cân nhắc ?
Dù Luật NHNN VN những năm qua đã góp phần từng bước hoàn thiện khuôn khổ, thể chế tổ chức và hoạt động của NHNN theo cơ chế thị trường, nâng cao hiệu quả quản lý và hoạt động của NHNN và hệ thống ngân hàng tại VN, nhưng đến nay luật này chưa đáp ứng được yêu cầu thực hiện chức năng, nhiệm vụ của NHNN và nhất là chức năng, nghiệp vụ của NHNN với tư cách là NHTƯ trong tình hình mới. Ngay cả dự thảo Luật sửa đổi Luật NHNN cũng chưa đáp ứng được định hướng của Bộ Chính Trị trong Thông báo số 191 – TB/TW ngày 1/9/2005; Cụ thể là trong vị thế độc lập của NHNN, của Thống đốc NHNN trong xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ; giám sát hoạt động ngân hàng và xử lý các tổ chức tín dụng gặp khó khăn; Trong công bố thông tin về chủ trương, chính sách tiền tệ, ngân hàng... vẫn chưa được luật hóa. Vì vậy, việc xây dựng mới và ban hành Luật NHNN VN (sửa đổi) là cần thiết để khắc phục những tồn tại, bất cập của luật hiện hành trong các nội dung về: Nâng cao tính độc lập, quyền hạn, vị thế của NHNN VN trong thực thi quyền Công pháp về chính sách nhà nước về ngân hàng thông qua việc quản lý nhà nước về ngân hàng, tiến hành tổ chức hoạt động thanh tra, giám sát an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng, thực hiện các cam kết đối ngoại của Nhà nước về ngân hàng... và trong chức năng NHTƯ - Hoạch định, điều hành và chủ động sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ (CSTT) để tác động lan tỏa qua hệ thống các TCTD tới nền kinh tế về tổng phương tiện thanh toán và đường cong lãi suất thông qua việc tổ chức thực thi chính sách tiền tệ, cung ứng tiền, tổ chức và tham gia hệ thống thanh toán quốc gia, tham gia và tổ chức hoạt động thị trường mở, thị trường liên ngân hàng, thị trường ngoại hối, tham gia và tổ chức thực hiện các cơ chế tài chính trong các quan hệ quốc tế...
Về Luật Các TCTD (sửa đổi), việc quy định các giới hạn an toàn hay các biện pháp thận trọng và linh hoạt phù hợp với thông lệ quốc tế là rất quan trọng. Luật TCTD mới cũng cần định nghĩa rõ ràng các điều kiện hoạt động khác nhau giữa các loại dịch vụ ngân hàng khác nhau như: ngân hàng đầu tư, ngân hàng phát triển, ngân hàng thương mại, ngân hàng bán buôn, ngân hàng bán lẻ và các dịch vụ ngân hàng phi tín dụng, TCTD phi ngân hàng... Cũng trong luật mới này, các thuật ngữ mới như tập đoàn tài chính, cơ cấu Hội đồng quản trị ngân hàng, quan hệ tỷ lệ sở hữu định chế tài chính (ĐCTC) nói chung và ĐCTC là ngân hàng nói riêng của các tổ chức, cá nhân (trong và ngoài nước) đối với các loại ĐCTC cụ thể là cần phải hướng vào thị trường, hướng vào các thông lệ quốc tế và bình đẳng với các đối tượng hội đủ điều kiện về an toàn và năng lực quản trị kinh doanh các dịch vụ ngân hàng... rất cần được Luật hóa cho phù hợp với điều kiện phát triển mới của VN và trong hội nhập quốc tế...
- Ông từng cho rằng, việc cho phép áp dụng lãi suất thoả thuận sẽ là bước đệm để dỡ bỏ lãi suất cơ bản đang áp dụng hiện nay. Tuy nhiên, quan điểm của Thường vụ Quốc hội là không bỏ lãi suất cơ bản. Quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào ?
Không nên hiểu và sử dụng LSCB là lãi suất do NHNN công bố bằng quyền lực hành chính để các ngân hàng thương mại làm cơ sở xác định lãi suất của mình.
Đây là vấn đề đã gây khá nhiều tranh luận. Trên thực tế lãi suất cơ bản (LSCB) là không có thực, nhưng lại vẫn do NHNN “công bố” và dùng làm “trần” với sợi dây dài 150% cho lãi suất thị trường tín dụng là rất cần phải thay đổi nội hàm và cơ chế sử dụng LSCB như là một công cụ hành chính như hiện nay. Về vấn đề này, tôi cho rằng, không phải là xóa LSCB, mà là xóa loại lãi suất không có thực như cách mà chúng ta đang hiểu, cũng như đang vận hành loại lãi suất này. Theo đó, cần phải định nghĩa lại LSCB theo hướng là lãi suất có thực, do NHTƯ công bố và dùng làm công cụ để cung ứng và/hoặc để điều tiết thị trường tiền tệ có hiệu lực bằng cả tài lực lẫn quyền lực thực của NHTƯ, là lãi suất của NHTƯ giao dịch với các ngân hàng thương mại trong hoạt động tái cấp vốn như: tái chiết khấu và hoặc lãi suất mua, bán giấy có giá của NHTƯ với các TCTD trên thị trường mở... Nghĩa là không nên hiểu và sử dụng LSCB là lãi suất do NHNN công bố bằng quyền lực hành chính để các ngân hàng thương mại làm cơ sở xác định lãi suất của mình và nhất là lại dùng để làm “trần” cho lãi suất tín dụng chính thức trên thị trường tín dụng như lâu nay vẫn làm.
- Liên quan đến quy định về sở hữu cổ phần trong TCTD trong Dự thảo có quy định cá nhân VN được sở hữu tối đa 5%, pháp nhân VN 15% và thể nhân pháp nhân nước ngoài 30% gây nhiều tranh cãi. Nhiều ý kiến cho rằng, quy định như vậy là “phân biệt” giữa DN cá nhân tổ chức VN và thể nhân pháp nhân nước ngoài. Ông có đồng tình với quan điểm này không ?
Về nguyên tắc, theo tôi không nên phân biệt theo quốc tịch, mà nên phân biệt theo năng lực quản trị vốn cũng như năng lực quản trị kinh doanh các dịch vụ ngân hàng. Mục tiêu cuối cùng của việc “đa sở hữu” hóa là để làm mạnh ngân hàng, chứ không phải để “phân phối” lợi nhuận của ngân hàng. Mọi loại thể nhân hay pháp nhân đều phải hoạt động theo pháp luật VN, nếu muốn tham gia góp vốn và quản trị, kinh doanh dịch vụ ngân hàng trên lãnh thổ VN.
- Khoản 6 Điều 103 Dự thảo Luật Các TCTD quy định việc cấm ngân hàng thương mại mua, nắm giữ cổ phiếu của tổ chức tín dụng khác theo ông có hợp lý không ?
Tôi cho rằng quy định như vậy là trái với nguyên tắc thị trường và với các quyền được mua, bán, sáp nhập hay đầu tư vốn vào những lĩnh vực mà các TCTD có tiềm năng, và/hoặc do nhu cầu bức xúc của chính TCTD muốn bán bớt cổ phần của mình cho TCTD có uy tín khác... Nếu cấm, chỉ nên cấm các Tập đoàn kinh tế công nghiệp phi ngân hàng được góp vốn quá một tỷ lệ đủ để thao túng hay tự thành lập ngân hàng riêng. Không quốc gia nào cho phép trong Tập đoàn công nghiệp có ngân hàng thương mại riêng hay Tập đoàn thao túng ngân hàng bằng tỷ lệ cổ phần hoặc bằng quyền tham gia quản trị ngân hàng. Nhân đây cũng nên có những quy định cụ thể trong Luật TCTD về điều kiện được thành lập ngân hàng thương mại và điều kiện được nắm giữ cổ phiếu của TCTD khác đối với một TCTD. Phân biệt các loại ngân hàng khác nhau, cũng như phân biệt ĐCTC là ngân hàng với ĐCTC phi ngân hàng...
Trong hội trường, thảo luận về tình hình kinh tế xã hội ngày 27/5, đại biểu Quốc hội phàn nàn về ứng xử của ngành điện trước tình trạng thiếu điện khiến doanh nghiệp và người dân điêu đứng.
Bảo vệ người gửi tiền và đảm bảo sự phát triển an toàn hệ thống tài chính quốc gia là vấn đề quan tâm của Chính phủ, đặc biệt trong bối cảnh thị trường Tài chính ngân hàng quốc tế vừa trải qua cơn đại khủng hoảng.
Nhận chức Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) tại giai đoạn hậu suy thoái kinh tế toàn cầu, ông Đỗ Nhất Hoàng có những vấn đề riêng phải giải quyết.
PSG TS. Trần Hoàng Ngân, Phó hiệu trưởng Đại học Kinh tế TP.HCM, đồng thời là thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia cho rằng, nếu không có sự can thiệp của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), thì tỷ giá hối đoái trong thời gian qua có thể còn giảm.
Trả lời phỏng vấn của phóng viên Dân trí về vấn đề giao thông trong đồ án quy hoạch chung Hà Nội, Bộ trưởng GTVT Hồ Nghĩa Dũng đã bày tỏ như vậy. Ông Dũng cũng cho rằng, không thể sớm giải quyết vấn đề ách tắc giao thông của Thủ đô…
Bác bỏ khả năng thắt chặt chính sách tiền tệ, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu cũng khẳng định sẽ xử lý nghiêm những ngân hàng thương mại đi ngược lại chủ trương hạ lãi suất của Chính phủ.
Nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc vào nhập khẩu nguyên liệu nước ngoài quá nhiều, do đó, khi hạ giá VND, giá hàng hóa nguyên liệu nhập khẩu sẽ cao, giá thành sản xuất hàng xuất khẩu sẽ tăng. Thêm vào đó, việc hạ giá VND cũng không có lợi cho việc xuất khẩu gạo, cà phê, khoáng sản. Đáng chú ý, việc hạ giá VND còn làm tăng giá hàng tiêu dùng nhập khẩu, vì vậy sẽ đẩy chỉ số giá tiêu dùng (CPI) lên cao.
Trao đổi với báo chí bên lề kỳ họp Quốc hội ngày 25/5 quanh dự án đường sắt cao tốc Hà Nội-TP.Hồ Chí Minh, Bộ trưởng Bộ GTVT Hồ Nghĩa Dũng khẳng định, Bộ sẽ nghe và tiếp thu các ý kiến từ nhiều phía và cân nhắc kỹ.
Trả lời phỏng vấn PV, chuyên gia tài chính cao cấp Bùi Kiến Thành cho rằng siêu dự án đường sắt cao tốc Hà Nội - TPHCM nếu dùng ngân sách và vốn vay ODA thì không nên làm.
Chính phủ đang cân nhắc xây dựng chiến lược nợ mới, theo hướng có thể tăng tỷ lệ vay căn cứ trên điều kiện phát triển và khả năng thanh toán, thay vì chỉ giữ ở mức dưới 50% như hiện nay.
Mang tiền “ném” vào đất đai ở Ba Vì vào lúc này là một kiểu đầu tư thiếu hiểu biết. Đó là quan điểm của Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Trần Nam về cơn “sốt” đất ở Ba Vì và các khu vực lân cận hiện nay.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.