Luật sư Trương Thanh Đức: "Tôi cho rằng, hiện đang là thời kỳ đỉnh điểm của tiêu cực trong quản lý đất đai từ trước tới nay" - Ảnh: Từ Nguyên.
Những gì xảy ra trong hơn một tháng qua tại Tiên Lãng đã vượt xa khỏi phạm vi của một vụ cưỡng chế đơn thuần.
Không chỉ phản ánh những bất hợp lý trong chính sách đất đai đã gián tiếp dẫn đến tranh chấp lợi ích, hàng loạt hành xử sai trái từ những công bộc của dân trong vụ việc có lẽ sẽ khiến không ít quan chức địa phương khác phải “chột dạ” ngoái đầu xem lại mình.
Sau khi có sự vào cuộc quyết liệt của công luận, các cơ quan báo chí rồi kế đó là của các bộ, ngành và cả người đứng đầu Chính phủ, nhiều người đang hồi hộp ngóng chờ một đoạn kết có hậu và công bằng.
“Cà phê cuối tuần” kỳ này, VnEconomy xin chia sẻ cùng độc giả góc nhìn của một chuyên gia về Luật Đất đai - Luật sư Trương Thanh Đức, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Luật Basico - xung quanh vụ cưỡng chế thu hồi đất tại Tiên Lãng, Hải Phòng.
Sai từ gốc
Ông có thể chia sẻ quan điểm cá nhân về vụ cưỡng chế đối với gia đình ông Đoàn Văn Vươn của chính quyền huyện Tiên Lãng?
Về mặt pháp lý, đến thời điểm này, nếu muốn nhận xét đầy đủ về vụ việc thì phải có những thông tin chuẩn xác từ hồ sơ vụ án, từ đó mới đưa ra những kết luận chính xác, cụ thể.
Tuy nhiên, qua theo dõi trên các phương tiện truyền thông, báo chí trong thời gian qua, tôi vẫn có những cảm nhận rõ rệt đối với những sai lầm của chính quyền huyện Tiên Lãng về mặt pháp lý, cách ứng xử với nhân dân và sau đó là những sai lầm nối tiếp nhau trong quá trình xử lý vụ việc cũng như cách khắc phục.
Tôi cho rằng, chính những sai lầm sau đó của chính quyền xã, huyện đã tạo ra những căng thẳng trong vụ việc.
Trong quan hệ giữa nhà nước với nhân dân thì nhà nước luôn phải có trách nhiệm phục vụ, bảo vệ người dân. Thế nhưng trong vụ Tiên Lãng, nguyên lý đó không được thực hiện. Lãnh đạo chính quyền địa phương không những bất chấp pháp lý mà còn chà đạp lên công lý, không tôn trọng quyền lợi, lợi ích của dân. Dưới con mắt của họ, dường như không có người dân.
Ở góc độ của một người làm luật, nghiên cứu luật, theo ông đâu là nguyên nhân trực tiếp, đâu là nguyên nhân sâu xa của vụ việc?
Lý do trực tiếp là cán bộ có quá nhiều sai lầm ngay từ ban đầu, cũng là sai từ gốc. Mọi đối xử của chính quyền Tiên Lãng đều chèn ép, bất hợp lý quá mức với người dân, cụ thể là gia đình ông Vươn.
Còn rộng hơn, nguyên nhân dẫn đến những đáng tiếc vừa qua là do những bất hợp lý trong chính sách đất đai. Đến nay, đã có tiếng nói mạnh mẽ từ cộng đồng, nhiều thành phần, cá nhân, tổ chức kiến nghị nên đa dạng hóa sở hữu đất đai, trong đó có tư hữu đất đai. Tôi cho rằng, nếu không chấp nhận điều này thì những mâu thuẫn, bất cập trong quản lý đất đai khó mà giải quyết được.
Vừa qua, báo chí có đưa tin, ở một tỉnh miền Nam, có cá nhân quản lý đến 300 ha đất nhưng phải nhờ người khác đứng tên. Nếu về lý, nhà nước có thể thu ngay, song trên thực tế, muốn làm ăn, sản xuất đầu tư lớn, bắt buộc người ta phải tích tụ ruộng đất.
Nhà nước không nên lo người dân mất đất vì xã hội tự điều tiết được hết. Nhà nước phải tạo ra được cơ chế để làm sao những người chủ, người làm thuê đều công bằng, hiệu quả.
Chính quyền Tiên Lãng cho rằng, khi họ giao đất cho ông Đoàn Văn Vươn là căn cứ vào Luật Đất đai 1987, trong đó không quy định thời hạn giao đất là 20 năm?
Đúng là Luật Đất đai năm 1987 không quy định thời hạn giao đất. Tuy nhiên, sau này mọi hoạt động phải tuân thủ luật mới. Luật Đất đai 1993 quy định thời hạn 20 năm thì tất cả đều phải chấp hành.
Ngay cả việc quy định thời hạn cũng chỉ là mang tính hình thức bởi trên thực tế, tinh thần giao đất cho dân là liên tục, trừ khi nhà nước thu hồi cho mục đích mới hoặc cá nhân đó vi phạm mới phải thu hồi, xử lý.
Vụ việc của ông Đoàn Văn Vươn chỉ là giọt nước tràn ly chứ không có gì là bất ngờ, bởi những bức xúc của người dân trong lĩnh vực đất đai hiện nay là quá nhiều.
Chính quyền địa phương cũng dùng việc ông Vươn mang một phần đất được giao đem cho thuê lại như một trong những lý do thu hồi. Điều này có hợp lý không, thưa ông?
Liệu Hải Phòng có thể đuổi hết người Nhật tại khu công nghiệp Normura vì họ cho thuê lại đất ở đây với giá khá cao?
Với ông Vươn, ngay cả khi đất của ông là đất thuê, thì ông vẫn có quyền được cho thuê lại một cách hợp pháp, huống gì đây lại là đất được giao. Luật pháp quy định, người được giao đất có quyền làm bất cứ việc gì trên đám đất đó để có hiệu quả cao nhất một cách hợp pháp. Hiện nay Nhà nước vẫn đang khuyến khích điều đó.
Còn nếu huyện Tiên Lãng vin vào cớ ông Vươn không phải người dân ở đó, lại có quá nhiều đất trong khi dân trong vùng đang thiếu đất thì Hải Phòng chắc phải đuổi hết các nhà đầu tư không phải người bản địa. Hơn nữa, tại sao lúc đầu huyện lại còn giao đất cho ông Vươn?
Luật quy định, nếu ông Vươn chỉ là một người thuê đất bình thường thì Tiên Lãng vẫn phải bảo vệ quyền lợi chính đáng cho ông. Chính quyền không thể phủ nhận công lao của ông Vươn trong việc biến một vùng đất hoang hóa, bãi bồi thành một vùng đất sinh lời.
Đến thời điểm này, lãnh đạo Hải Phòng đã bước đầu thừa nhận sai sót và có một số động thái xử lý vụ việc. Theo ông, điều này nói lên điều gì?
Vấn đề là do sức ép của công luận quá lớn. Lãnh đạo Hải Phòng thống kê được có đến hàng trăm bài báo chính thống viết về vụ việc, và họ cũng biết rằng trong đó có đến hơn 90% bài phản đối chính quyền Tiên Lãng, ủng hộ cá nhân ông Vươn. Điều này cho thấy, lòng dân rất quan trọng.
Quan điểm của tôi là ngay cả khi Hải Phòng đúng thì cũng phải xử lý nhẹ nhàng để lấy lòng dân. Thế nhưng, đến thời điểm này, Hải Phòng vẫn không thừa nhận mình sai từ gốc mà chỉ cho rằng, chỉ là sai sót trong quá trình tổ chức cưỡng chế. Động thái vào cuộc của Hải Phòng, theo tôi, cũng là do sức ép của Thủ tướng và dư luận. Ngay cả việc công bố đình chỉ công tác một số cán bộ xã, huyện thì đó cũng mới chỉ là bao biện, xoa dịu...
Tiêu cực đất đai đang ở đỉnh điểm
Ông có cho rằng, có dấu hiệu tư lợi trong vụ cưỡng chế?
Tôi nghĩ là có. Thông thường trong một số vụ việc trước đây, khi quan chức chính quyền có tiêu cực, cách làm truyền thống của họ là thường núp bóng người thân, họ hàng để trục lợi. Đó là những vụ tiêu cực trắng trợn. Còn trong vụ Tiên Lãng, hiện dân ở đó vẫn đang đồn rằng, quan chức chính quyền không áp dụng phương thức đó mà nhờ cậy đội quân chân tay bên ngoài để trục lợi, như vậy thì sẽ khó lần ra được.
Theo luật, khu đất của gia đình ông Vươn có được xếp vào đất nông nghiệp không, khi chính quyền huyện Tiên Lãng cho rằng, đất đó không phải là đất nông nghiệp?
Đương nhiên phải là đất nông nghiệp rồi, vì nó phụ thuộc vào mục đích sử dụng. Nếu khu đất đó không ai khai thác, không nuôi trồng gì thì không xếp vào đất nông nghiệp. Còn nếu chỉ cần cắm một cây lúa xuống hay thả nuôi một ít tôm cá, thì được quy vào đất nông nghiệp.
Hơn nữa, khi giao đất thì mục đích đương nhiên là để phát triển nông nghiệp, bởi hiện nay luật chỉ phân thành hai loại đất, nếu không là đất nông nghiệp thì phải là đất phi nông nghiệp.
Theo ông, việc Luật Đất đai quy định thời hạn giao đất nông nghiệp là 20 năm có hợp lý?
Theo tôi thì chẳng có lý do gì để đặt ra thời hạn 20 năm khi giao đất. Nó chỉ hợp lý khi nó chỉ có ý nghĩa tượng trưng, tức là sau đó tiếp tục giao đất và người được giao không vi phạm gì. Tốt nhất là sau năm 2013, những ai đang được giao đất thì tiếp tục được quản lý diện tích đất đó.
Ông nhìn nhận thế nào về những tiêu cực trong quản lý đất đai trên cả nước hiện nay?
Tôi cho rằng, hiện đang là thời kỳ đỉnh điểm của tiêu cực trong quản lý đất đai từ trước tới nay. Xã hội hiện nay, một mặt chịu ảnh hưởng của kinh tế thị trường, một mặt do chính bản thân cơ chế quản lý bất cập, bất nhất đã khiến cho tiêu cực càng sinh sôi nảy nở.
Vụ việc ở Tiên Lãng như tôi đã nói chỉ là giọt nước làm tràn ly, bởi những tiêu cực trong quản lý đất đai hiện quá nhiều. Nó cũng là một tiếng chuông cảnh báo cho những nhức nhối về đất đai cũng như ứng xử của chính quyền với người dân nói chung.
Cần đa dạng hóa sở hữu đất đai
Vậy theo ông, cần phải làm gì để không xảy ra những vụ Tiên Lãng khác?
Theo tôi, luật cần sửa đổi theo hướng đa dạng hóa sở hữu, trong đó thừa nhận tư nhân hóa đất đai. Hai là phải bỏ hạn mức khi giao đất.
Bởi, quyền sở hữu là thiêng liêng, là bất khả xâm phạm. Nó cũng là động lực phát triển của xã hội. Hiện nay chúng ta đang cho rằng, đất đai không cần phải công nhận sở hữu bởi thực tế cũng như là đã được sở hữu rồi. Nói như vậy chỉ là ngụy biện, vì nếu như thế thì không có lý gì lại trì hoãn việc công nhận sở hữu của người dân.
Hơn nữa, việc sở hữu hay không sở hữu nó cực kỳ quan trọng, đặc biệt là khi có biến động, xung đột lợi ích thì nó mới thể hiện và quyết định vấn đề.
Cũng có ý kiến cho rằng, luật của chúng ta đã khá nhiều, thậm chí là đầy đủ, nhưng để xảy ra những bất cập, tiêu cực là do người thực hiện?
Đúng là thế, bởi con người là quan trọng nhất, nhưng cũng nguy hiểm nhất. Một lãnh đạo cao nhất của ngành tòa án trước đây đã từng nói “đất đai thì xử kiểu gì cũng được”. Bởi, luật như thế nhưng người xét xử chỉ cần một vài động tác là đã sai lệch toàn bộ vụ việc.
Tuy nhiên, hệ thống pháp luật của chúng ta hiện vẫn còn quá nhiều bất hợp lý, chồng chéo, mâu thuẫn..., đó là hệ quả tất yếu của trình độ và cơ chế làm luật tạo nên.
Ông có nghĩ đây là bài học đắt giá trong công tác quản lý đất đai hiện nay?
Không chỉ là đắt giá mà còn trên mức đó nhiều. Nó là bài học xương máu cho nhà nước, cả ở cấp Trung ương chứ không chỉ là chính quyền cơ sở.
Hơn nữa, trong quan hệ nhà nước - người dân thì không phải lúc nào cũng nên đặt lý lên trên hết, vì nhà nước là người cầm trịch. Để xã hội chấp nhận, tâm phục khẩu phục thì cái cần thiết vẫn là cái tình, dù nó chỉ là nhỏ thôi. Có như vậy, cái lý dù lớn mấy cũng đạt được.
Trong vụ Tiên Lãng, ngoài vấn đề luật pháp, việc ứng xử thiếu tôn trọng dân là gốc của mọi việc. Nếu chỉ một mình ông Vươn phản đối thì còn có thể cho rằng ông không ra gì, nhưng một khi người người cùng phản đối thì sự không đồng thuận với chính quyền địa phương đã quá rõ.
Vụ Tiên Lãng giờ không còn là câu chuyện cưỡng chế của một xã mà đã là vấn đề quốc gia, nó đã thu hút sự quan tâm chú ý của nhiều bộ, ngành, của hàng triệu người dân trên cả nước.
Nếu được chấp thuận cho đầu tư, nhiều khả năng sắp tới Việt Nam sẽ đón nhiều dự án casino với số vốn lên tới hàng tỷ USD. Liệu Việt Nam có nên "mở cửa" cho các dự án casino? Trò chuyện với GS.TS Nguyễn Mại, Chủ tịch Hiệp hội DN đầu tư nước ngoài (VAFIE).
Tôi có nhiều người bạn quốc tế có trình độ cao, có thu nhập lớn, trong đó có những người là tỷ phú, họ cực kỳ ngạc nhiên trước sự tiêu xài của không ít người Việt.
Ngày 26/10/2006, người đứng đầu Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đã vung tay, gõ búa chấm dứt quá trình đàm phán kéo dài suốt 9 năm, nếu kể cả thời gian chuẩn bị là 11 năm của Việt Nam. Từ thời khắc đó, cánh cửa vào sân chơi kinh tế thương mại lớn nhất hành tinh đã mở toang đối với Việt Nam.
Tôi rất buồn khi đến thị trường các nước châu Âu, gạo bán đầy trong các siêu thị nhưng lại không có bất kỳ thương hiệu gạo nào của Việt Nam. Thực ra, trong đó có rất nhiều gạo Việt Nam, nhưng đều mang thương hiệu của nước khác.
Khẳng định quyết tâm kiềm chế lạm phát của Chính phủ là hoàn toàn đúng đắn, nhưng TS. Bùi Đức Thụ, Ủy viên Thường trực Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội, cho rằng với cách thắt chặt tiền tệ hiện nay sẽ dẫn đến sự ngột ngạt cho cả nền kinh tế.
TS Trần Đình Thiên cho rằng, với mục tiêu lạm phát dưới 10% nhưng lạm phát phải giảm sâu hơn xuống mức 5 - 7% thì doanh nghiệp mới trụ được trong năm "cắn răng vượt khó" này.
Việt Nam đã bỏ mất nhiều cơ hội do môi trường pháp lý chậm cải thiện, kéo dài chính sách đối xử phân biệt với nước ngoài và chính sách công nghiệp không rõ ràng, thay đổi thường xuyên. Chưa kể, chúng ta còn phải đối mặt với những nguy cơ khi lệ thuộc quá nhiều vào một nền kinh tế.
Trong một thế giới thay đổi nhanh chóng và mạnh mẽ, khi nền kinh tế phát triển đến ngưỡng nhất định thì không thể dựa vào những lợi thế so sánh cũ mà cần tạo lập và phát triển những lợi thế mới. Vì thế, ngay cả khi không có sóng gió nặng nề như mấy năm qua, Việt Nam vẫn phải tái cấu trúc nền kinh tế.
Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Văn Ninh khẳng định: Vượt qua khó khăn, Chính phủ đã, đang và sẽ chèo lái “con thuyền kinh tế VN” vượt đại dương, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, bảo đảm lợi ích quốc gia, đáp ứng niềm tin và sự kỳ vọng của nhân dân cả nước.
2011 là một năm đầy dấu ấn và mang tính bước ngoặt, là thời điểm chín muồi để khởi đầu cho bước đường đổi mới hệ thống tài chính VN trong năm 2012 - 2015.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.