2011 là năm thế giới có nhiều biến động về chính trị, kinh tế và xã hội rất sâu sắc. Những biến động này vừa làm lộ rõ hậu quả của những diễn tiến đã và đang xảy trong nhiều năm qua và vừa khẳng định những xu hướng mới trên toàn cầu. Nắm bắt những điểm này là điều rất cần thiết trong việc định hướng đất nước hướng tới một giai đoạn phát triển mới tích cực hơn.
Một thế giới nhiều biến động
Về phương diện chính trị, ấn tượng nhất là làn sóng phản đối chống chính phủ ở nhiều nước Bắc Phi và Trung Đông. Cho đến thời điểm này, ba chính phủ đã bị lật đổ (ở Tunisia, Ai Cập, và Libya) trong khi sự phản đối vẫn mạnh mẽ ở một số nơi khác, chẳng hạn như Syria. Có nhiều lý do dẫn đến phong trào trên, nhưng nổi bật nhất vẫn là sự hà khắc của giới cầm quyền, những bất công trong xã hội, nạn tham nhũng, và những khó khăn về kinh tế.
Ở một chừng mực nào đó, phong trào này cũng đã “hà hơi” cho phong trào “Chiếm phố Wall” ở Mỹ, bắt nguồn từ New York rồi lan rộng ra nhiều thành phố lớn khác. Ảnh hưởng kéo dài của cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ đã làm một bộ phận dân Mỹ rơi vào tình trạng khó khăn. Họ bất bình vì cảm thấy rằng tình trạng khó khăn của họ một phần là do những nhóm tài phiệt có ảnh hưởng chính trị gây ra. Do đó, “Chiếm phố Wall” là dịp để họ lên tiếng phản đối về sự bất bình đẳng giàu nghèo đang gia tăng trong xã hội cũng như sự lũng đoạn của những nhóm lợi ích và sự lúng túng của chính phủ trong việc tháo gỡ những bất cập của nền kinh tế.
Trong khi đó, cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu vẫn đang trên đà lan rộng. Nguyên nhân chính của tình trạng này là sự vay mượn và chi tiêu quá trớn của chính phủ trong những năm trước đó. Trong những nỗ lực xoay xở tình hình, ngoài việc thương lượng những gói giải cứu, chính phủ các nước liên quan buộc phải đưa ra những kế hoạch cắt giảm chi tiêu khá mạnh tay. Việc này tất nhiên gây ảnh hưởng tiêu cực đến những chương trình phúc lợi xã hội cũng như làm trầm trọng thêm vấn đề thất nghiệp. Do đó, từ Hy Lạp đến Ý, nhiều người dân lại xuống đường phản đối chính phủ.
Những ảnh hưởng từ sự trỗi dậy của Trung Quốc cũng là chủ đề thường được đề cập đến trong quan hệ quốc tế. Là một nước có nền kinh tế lớn thứ nhì thế giới, Trung Quốc ngày càng trở nên quan trọng hơn trong việc cùng cộng tác với các nước để giải quyết các vấn đề có tính chất toàn cầu. Trung Quốc cùng các nước khác trong khối BRIC (gồm Brazil, Nga, Ấn Độ, và Trung Quốc) đã ngày càng có ảnh hưởng hơn trong tiến trình cải tổ các định chế quản trị toàn cầu theo hướng gia tăng sự tham gia của các nước đang phát triển vào quá trình ra quyết định để họ có thể theo đuổi các lợi ích của mình hữu hiệu hơn.
Tuy nhiên, với những tham vọng riêng của mình, Trung Quốc đang gây ra nhiều thách thức đối với siêu cường của thế giới (Mỹ) và các nước trong khu vực Đông Á. Trong lúc Mỹ bận rộn với hai cuộc chiến ở Iraq và Afghanistan cũng như với những nỗ lực chống khủng bố trên toàn cầu thì Trung Quốc đã có những bước đi mạnh mẽ hơn trong khu vực. Do đó, để củng cố địa vị siêu cường của mình, Mỹ đang tập trung hơn nữa vào khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Điều này phần nào được thể hiện qua những động thái gần đây của Mỹ, chẳng hạn như nỗ lực trong việc đàm phán để ký kết Hiệp định Thương mại Xuyên Thái Bình Dương và tuyên bố của Tổng thống Obama về kế hoạch gửi 2.500 binh sĩ Thủy quân Lục chiến đến đồn trú tại Úc (mặc dù đây là con số khiêm tốn nhưng nó được xem như là một bước đi tượng trưng khá mạnh khiến Trung Quốc phải suy nghĩ nhiều hơn). Một cách ngắn gọn và rõ ràng, Ngoại trưởng Hillary Clinton đã gọi thế kỷ 21 là Thế kỷ Thái Bình Dương của Mỹ.
Những xu hướng chính
Từ những diễn biến toàn cầu quan trọng ở trên, có thể thấy những điểm trọng yếu sau đây. Một là, sự gia tăng bất bình đẳng là hiện tượng toàn cầu chứ không phải tập trung ở các nước đang phát triển. Nó phần nào cho thấy rằng tiến trình toàn cầu hóa, mặc dù đã giúp nhiều người trên thế giới thoát khỏi tình trạng nghèo tuyệt đối, đã làm nặng thêm tình trạng kẻ mất người được có khuynh hướng gây bất ổn xã hội nhiều hơn.
Hai là, tình trạng bất ổn kinh tế vĩ mô vừa khó lường hơn vừa có sức lan tỏa nhanh hơn. Thủ phạm chính của hiện tượng này là sự thiếu trách nhiệm của chính phủ cộng với sự chi phối của giới tài phiệt toàn cầu. Ba là, người dân ở nhiều nơi trên thế giới ít ngần ngại hơn trong việc phản đối những bất công và áp bức trong xã hội. Họ trở nên hữu hiệu hơn phần lớn nhờ vào sự sử dụng những kỹ thuật truyền thông hiện đại, trong đó gồm có cả các mạng xã hội trên Internet, trong cuộc tranh đấu của mình.
Bốn là, trước tình trạng suy giảm nguồn tài nguyên, các quốc gia buộc phải tìm mọi cách để xoay xở đối phó. Theo đây, ngoài sự tranh giành, các nước phải tìm mọi cách để đưa ra những sáng kiến và phát minh mới nhằm sử dụng tài nguyên một cách hiệu quả và bền vững hơn. Do đó, xu thế cạnh tranh toàn cầu sẽ là cạnh tranh dựa trên sức sáng tạo và khả năng tích lũy vốn con người.
Năm là, với sự trỗi dậy của một số nước đang phát triển, xu hướng hướng tới một thế giới đa cực có phần rõ nét hơn. Trước diễn tiến này, các cường quốc sẽ vừa cạnh tranh để chiếm (hoặc cố giữ) một địa vị có sức ảnh hưởng toàn cầu và vừa hợp tác để giải quyết những vấn đề chung của nhân loại.
Ứng xử cho Việt Nam
Vậy Việt Nam nên ứng phó như thế nào trong một bối cảnh thế giới mới? Trước hết, cần phải nhìn nhận rằng vì độ mở của nền kinh tế, thực tiễn địa chính trị, và những thay đổi trong xã hội của mình, Việt Nam ít nhiều đều chịu ảnh hưởng từ tất cả những xu hướng mới của toàn cầu như đã nêu. Điều đó cũng có nghĩa là Việt Nam phải đối mặt với cả cơ hội và thách thức. Vấn đề quan trọng là biết tận dụng cơ hội và biến thách thức thành cơ hội để đẩy mạnh đất nước phát triển theo hướng bền vững, công bằng và dân chủ hơn.
Cơ hội tương đối dễ thấy nhất là Việt Nam đang nằm trục tăng trưởng (khu vực Đông Á) của nền kinh tế thế giới. Điều này có nghĩa là triển vọng thu hút đầu tư nước ngoài, đẩy mạnh giao thương, điều chỉnh luật lệ phù hợp hơn với thông lệ quốc tế, và tham gia vào mạng lưới sản xuất trong khu vực được nâng cao. Nhưng để có thể tận dụng triệt để cơ hội này trong khi giảm thiểu các tác động tiêu cực thì cần phải có những chính sách đúng đắn. Quan trọng nhất vẫn là đấu tranh với tham nhũng và thúc đẩy dân chủ trong quy trình làm chính sách để có thể ngăn chặn bớt sự thao túng của các nhóm lợi ích.
Bên cạnh đó, tình trạng phân hóa giàu nghèo đang gia tăng ở Việt Nam cần phải được giải quyết. Muốn xã hội vững mạnh hơn, Việt Nam cần đặc biệt xây dựng một tầng lớp trung lưu ngày càng lớn. Đây là lực lượng chính để thúc đẩy phát triển một nền kinh tế quốc dân vững mạnh, có khả năng giảm bớt các tác động khủng hoảng đến từ bên ngoài, và một xã hội dân chủ.
Chi tiết hơn, trước hết cần phải chiến lược hóa lại cơ cấu đầu tư công. Nhà nước cần hạn chế trút vốn vào những ngành công nghiệp làm ăn thiếu hiệu quả và đang có xu hướng lỗi thời. Thay vào đó, nên hướng nguồn vốn này để thúc đẩy phát triển khu vực nông thôn bằng cách xây dựng các cơ sở hạ tầng trọng yếu, đầu tư vào giáo dục (đặc biệt là các trường dạy nghề phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế), và tạo điều kiện thuận lợi để các hộ nông dân vay vốn nhằm phát triển công việc của họ.
Trước sự gia tăng của dân số cũng như những ảnh hưởng của thay đổi môi trường và khí hậu, vấn đề an ninh lương thực càng trở nên quan trọng hơn. Theo đây, cần duy trì tốt diện tích đất canh tác nông nghiệp và hạn chế tình trạng biến đất canh tác thành các khu công nghiệp và khu giải trí (chẳng hạn như sân golf) một cách bừa bãi thiếu hiệu quả kinh tế. Đất dành cho các khu này phải là đất không còn (hoặc ít có) khả năng canh tác nông nghiệp có hiệu suất.
Hơn nữa, các hoạt động kinh tế gây ảnh hưởng tiêu cực nghiêm trọng đến cuộc sống sản xuất của người nông dân (có thể thấy qua các ví dụ như những dòng sông bị ô nhiễm và tác hại của một số ngành khai khoáng) cần phải được xử lý nghiêm minh. Những luật lệ về bảo vệ môi trường cần phải được thực thi rốt rào và điều chỉnh cho phù hợp với xu hướng phát triển xanh và sạch của thế giới.
Mở rộng ra hơn, luật pháp nói chung cần phải thật sự là công cụ để xây dựng một xã hội văn minh hàm chứa những tính chất như tôn trọng tự do, dân chủ, yêu chuộng công lý, khuyến khích sáng tạo, tương thân tương ái, và yêu chuộng hòa bình. Khi làm được như vậy, Việt Nam sẽ có nhiều thuận lợi hơn nữa khi kêu gọi các nước giải quyết tranh chấp dựa trên những luật lệ quốc tế. Một nước Việt Nam văn minh với một hệ thống pháp lý phù hợp với trào lưu tiến bộ của nhân loại thì tất nhiên sẽ có nhiều ảnh hưởng hơn trên trường quốc tế. -------------------------------------- Tác giả: Trần Lê Anh // Nguồn: Thời báo Kinh Tế Sài Gòn
Những cuộc khủng khoảng kinh tế mà ta thường thấy mang tính chu kỳ và thường trở nên khốc liệt hơn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của nhân dân, bắt nguồn và bị duy trì lâu dài chỉ vì chính sách tài chính sai lầm của nhà nước.
Những năm gần đây, khi đăng bài về tình hình kinh tế Việt Nam và để nhấn mạnh khoảng cách giàu nghèo đang ngày một lớn, báo chí phương Tây thích đưa hình ảnh những cửa hàng đồ hiệu sang trọng, thường là Louis Vuitton hoặc Chanel, đi kèm là hình ảnh một ông xe ôm nằm ngủ gật trên yên xe máy, hoặc một bà bán rong đội nón, gánh thúng lủi thủi đi ngang.
Báo cáo cạnh tranh công nghiệp Việt Nam 2011 vừa được Tổ chức Phát triển công nghiệp Liên hiệp quốc (Unido) và Bộ Công Thương công bố tuần qua. Theo đó, hiệu suất cạnh tranh công nghiệp của Việt Nam tăng nhưng không vững chắc.
Năm 2012, được nhiều chuyên gia và các DN đánh giá là một năm đặc biệt, một năm tiền đề cho sự thay đổi về chất lượng phát triển. Còn nhiều khó khăn nhưng tất cả đều hy vọng tái cơ cấu sẽ tạo ra những cơ hội phát triển mới.
Năm 2012 nền kinh tế Việt Nam ở vào một tình thế khó khăn hơn, thực lực bị yếu đi hơn nhiều so với những năm trước. Tuy có thể có một số tác động "tích cực" nào đó (giá cả hàng hóa, năng lượng, nguyên liệu có thể giảm, giúp giảm CPI, hỗ trợ tăng trưởng), song tình hình kinh tế thế giới năm 2012 nhìn chung sẽ tác động bất lợi nhiều hơn đến tăng trưởng và ổn định của nền kinh tế nước ta.
Theo TS.Trần Đình Thiên - Viện trưởng Viện Kinh tế VN, đến thời điểm này các dự báo đều thống nhất nhận định về một triển vọng u ám, thậm chí tồi tệ hơn rất nhiều, của kinh tế thế giới năm 2012 so với năm 2011. Kinh tế VN đang trong tình huống cấp bách, mà tình huống cấp bách thì phải có liệu pháp đặc biệt, không thể trông chờ vào các giải pháp mang tính chữa cháy.
Chúng ta sắp đi qua một năm 2011 sôi động với những sự kiện nổi bật, biến chuyển sâu sắc của đời sống xã hội trên nhiều lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục..., và đã được phản ánh sinh động qua bức tranh đa sắc của truyền thông Việt Nam .
Cơ hội tái cơ cấu nền kinh tế và tái cấu trúc các DNNN, hệ thống ngân hàng có thể xem như một thách thức lớn và là điểm tích cực trong khó khăn, suy thoái, bên cạnh đó chính là ý thức của mỗi người dân về tiết kiệm nguồn lực, chuẩn bị việc tái đầu tư cho một chu trình phát triển mới.
Lần đầu tiên tại Việt Nam 3 ngân hàng hợp nhất làm một; tỷ giá, giá vàng tăng kỷ lục nhất từ trước đến nay, lãi suất đạt đỉnh... là những con số và sự kiện gây sốc với DN và cả nền kinh tế trong năm 2011.
Dấu hiệu của tính quy luật chỉ còn rất mờ nhạt, diễn biến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong năm 2011 nổi trội ở hai đột biến, đến từ các mức tăng kỷ lục mới trong tháng 4 và tháng 7.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.