Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới năm 2010 - Ảnh: Reuters.
Trong quá trình hoạch định chính sách phát triển, cần có quan điểm hệ thống, tầm nhìn dài hạn và đối chiếu với các nước trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh toàn cầu.
Năm 2010, Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) lần đầu tiên được đón đoàn đại biểu Việt Nam do đích thân Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng dẫn đầu. Đoàn Việt Nam đã có nhiều hoạt động sôi nổi, đa dạng và hiệu quả trong một diễn đàn phi chính thức mang tính toàn cầu.
Để cung cấp thêm thông tin về các khía cạnh của diễn đàn này, và cũng để cung cấp thông tin bổ sung trong quá trình xây dựng chiến lược phát triển Việt Nam, người viết xin được tổng thuật ngắn đánh giá của thế giới về Việt Nam trong tương quan toàn cầu và khu vực, theo báo cáo cạnh tranh toàn cầu 2009/2010 được phát hành nhân dịp này.
Trong tương quan thế giới, Việt Nam ngày nay đang có vị thế ngày càng nổi bật, nhưng cũng đang bị cạnh tranh gay gắt.
Các tiêu chí cạnh tranh quốc gia
Việt Nam
Trung Quốc
Thái Lan
Philippines
Singapore
Ấn Độ
Hàn Quốc
Nhật Bản
Dân số (triệu người)
88,50
1.336,30
64,30
89,70
4,50
1.186,20
48,40
127,90
Xếp hạng
13
1
18
12
95
2
23
10
GDP giá thực tế (tỷ USD)
89,80
4.401,60
273,20
168.60
181,90
1.209,70
947,00
4.923,80
Xếp hạng
59
3
34
47
44
12
15
2
GDP bình quân đầu người thực tế (USD/người)
1.040,40
3.315,20
4.115,30
1.866,00
38.972,10
1.016,20
19.504,50
38.599,10
Xếp hạng
109
88
80
98
22
111
37
23
Tỷ trọng GDP các nước theo PPP (%)
0,35
11,40
0,80
0,46
0,35
4,77
1,85
6,37
Xếp hạng
44
2
23
35
45
4
14
3
Kết quả toàn bộ GCI
4,03 (75)
4,74 (29)
4,56 (36)
3,90 (87)
5,55 (3)
4,30 (49)
5,00 (19)
5,37 (8)
Năm 2008/2009
70
30
34
71
5
50
13
9
Tăng giảm thứ bậc
-5
1
-2
-16
2
1
-6
1
Nguồn:Báo cáo cạnh tranh toàn cầu 2009/2010 của WEF. Chú thích: PPP (Sức mua tương đương)
Bảng trên cho thấy, với thị trường nội địa to lớn, với dân số đứng thứ 13 thế giới và thứ 3 của khu vực ASEAN, sau Indonesia và Philippines, Việt Nam đang sản xuất quy mô GDP danh nghĩa đứng thứ 59 toàn cầu, nhưng theo sức mua tương đương (loại trừ các yếu tố giá cả và tỷ giá), kinh tế Việt Nam đứng thứ 44, trên cả Singapore.
Tuy nhiên, tính theo GDP danh nghĩa bình quân đầu người thì GDP bình quân đầu người của Việt Nam chỉ đứng thứ 109, vượt mức 1.000 USD/người như Ấn Độ. Hai nước này đều bị xếp loại nước đang phát triển, chủ yếu dựa vào việc đáp ứng các nhu cầu cơ bản, tức cũng là dựa vào các nhân tố tăng trưởng trong giai đoạn khởi động nền kinh tế như thể chế kinh tế được đổi mới, nâng cấp cơ sở hạ tầng, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và nâng cao số lượng và chất lượng cung ứng các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế và giáo dục phổ thông.
Theo sự phân loại 5 giai đoạn phát triển trong báo cáo của WEF, tạm chia các nền kinh tế theo chỉ tiêu GDP bình quân đầu người là chính (nhưng cũng có nước tuy thu nhập cao, nhưng dựa trên khai thác tài nguyên như Brunei Darussalam dù đã đạt hơn 37.000 USD/người năm 2008, nhưng vẫn xếp vào giao đoạn phát triển thấp hơn):
Giai đoạn
GDP bình quân đầu người
Các nước
Giai đoạn 1 phát triển dựa vào các nhân tố phát triển
Dưới 2.000 USD/người
Campuchia, Lào, Việt Nam, Ấn Độ, Philippines
Giai đoạn chuyển tiếp 1-2
Từ 2.000-3.000 USD/người
Indonesia, Brunei Darussalam
Giai đoạn 2 hướng vào hiệu quả
Từ 3.000-9.000 USD/người
Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia
Giai đoạn chuyển tiếp 2-3
Dưới 17.000 USD/người
Liên bang Nga
Giai đoạn 3 phát triển dựa trên đổi mới công nghệ và trí thức
Trên 17.000 USD/người
Hàn Quốc, Singapore, Nhật bản
Nguồn: Báo cáo cạnh tranh toàn cầu 2009/2010
Trong giai đoạn 1 khởi động nền kinh tế, hướng đến các nhu cầu cơ bản, các nền kinh tế như Campuchia, Lào, Việt Nam, Ấn Độ và cả Philippines đã phát triển dựa vào các nhân tố tạo động lực như các trụ cột chủ yếu là thể chế; cơ sở hạ tầng; ổn định vĩ mô và phát triển các dịch vụ xã hội cơ bản như giáo dục tiểu học, y tế.
Đối với các nhu cầu cơ bản, sự so sánh của các nền kinh tế như sau:
Các tiêu chí cạnh tranh quốc gia
Việt Nam
Trung Quốc
Thái Lan
Philippines
Singapore
Ấn Độ
Hàn Quốc
Nhật Bản
Nhóm trụ cột nhu cầu cơ bản (Thứ hạng và chỉ số trên thang 7 điểm)
92 (4.02)
36 (5.09)
43 (4.86)
95 (3.94)
2 (5.99)
79 (4.18)
23 (5.40)
27 (5.27)
Trụ cột 1 : Thể chế
63
48
60
113
1
54
53
28
Trụ cột 2: Hạ tầng
94
46
40
98
4
76
17
13
Trụ cột 3: Ổn định kinh tế vĩ mô
112
8
22
76
35
96
11
97
Trụ cột 4: Y tế và giáo dục tiểu học
76
45
61
93
13
101
27
19
Nguồn: Báo cáo cạnh tranh toàn cầu 2009/2010
Theo thứ hạng này, Việt Nam được xếp vị trí 92, ở giữa Ấn Độ (79) và Philippines (95) là các nước đang phát triển mới ở giai đoạn khởi động nền kinh tế. Tuy nhiên, so với mấy năm trước, vấn đề ổn định kinh tế vĩ mô của Việt Nam đã có bước tụt hậu, chỉ xếp hạng 112 (do tình trạng lạm phát cao gần 20% năm 2008 và các chỉ tiêu vĩ mô khác) so với hạng chung của Nhóm tiêu chí các nhu cầu cơ bản là 92 (trong khi các đổi mới thể chế được đánh giá cao thứ 63, còn các dịch vụ cơ bản y tế, giáo dục được đánh giá thứ 76 và cơ sở hạ tầng được đánh giá thấp hơn nữa là 94) và xếp hạng chung cạnh tranh toàn cầu là 75.
Vì sự tụt hạng này, thứ hạng cạnh tranh toàn cầu (CGI) của Việt Nam cũng bị tụt hậu 5 bậc so với năm trước đó là 70.
Trong giai đoạn 2, các nền kinh tế/các nước như Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia hướng đến tăng cường hiệu quả của nền kinh tế, các nền kinh tế thuộc nhóm nước/nền kinh tế này dựa vào 6 trụ cột khác. Theo đó, các trụ cột có sự sắp xếp thứ tự cạnh tranh năm 2009/2010 như sau:
Các tiêu chí cạnh tranh quốc gia
Việt Nam
Trung Quốc
Thái Lan
Philippines
Singapore
Ấn Độ
Hàn Quốc
Nhật Bản
Nhóm trụ cột nâng cao hiệu quả (Thứ hạng và chỉ số trên thang 7 điểm)
61 (4.08)
32 (4.56)
40 (4.46)
78 (3.91)
2 (5.61)
35 (4.52)
20 (4.92)
11 (5.21)
Trụ cột 5: Đào tạo và giáo dục bậc cao hơn
92
61
54
68
5
66
16
23
Trụ cột 6: Hiệu quả thị trường hàng hóa
67
42
44
95
1
48
36
17
Trụ cột 7: Hiệu quả thị trường lao động
38
32
25
113
1
83
84
12
Trụ cột 8: Sự tinh vi của thị trường tài chính
82
81
49
93
2
16
58
40
Trụ cột 9: Sẵn sàng về công nghệ
73
79
63
84
6
83
15
25
Trụ cột 10: Quy mô thị trường
38
2
21
35
39
4
12
3
Nguồn: Báo cáo cạnh tranh toàn cầu 2009/2010
Trong giai đoạn phát triển cao hơn, các nền kinh tế thuộc Nhóm 3 như Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore củng cố sự phát triển của đất nước theo hướng tăng cường các nhân tố đổi mới và tinh vi hơn như các nhân tố tinh vi hơn trong kinh doanh và đổi mới công nghệ. Ứng dụng các tiêu chí này trong phân loại, sự xếp hạng cạnh tranh toàn cầu 2009/2010 như sau:
Các tiêu chí cạnh tranh quốc gia
Việt Nam
Trung Quốc
Thái Lan
Philippines
Singapore
Ấn Độ
Hàn Quốc
Nhật Bản
Nhóm trụ cột các nhân tố đổi mới (Thứ hạng và chỉ số trên thang 7 điểm)
55 (3.72)
29 (4.23)
47 (3.83)
74 (3.45)
10 (5.15)
28 (4.24)
16 (4.88)
2 (5.70)
Trụ cột 11: Sự tinh vi của kinh doanh
70
38
43
65
14
27
21
1
Trụ cột 12: Đổi mới công nghệ
44
26
57
99
8
30
11
4
Nguồn: Báo cáo cạnh tranh toàn cầu 2009/2010
Xếp hạng cạnh tranh toàn cầu theo cả ba nhóm trụ cột này đạt thứ hàng 75/133 nền kinh tế toàn cầu như đã trình bày ở trên.
Qua các số liệu trên có thể thấy rằng, Việt Nam đã có những tiến bộ và được đánh giá cao hơn so với đánh giá chung (75) trong đánh giá về quy mô thị trường (38) và hiệu quả thị trường lao động (38), hiệu quả thị trường hàng hóa thuộc Nhóm trụ cột thứ hai, nhưng các yếu tố của nền kinh tế thị trường mới được đánh giá ở mức trung bình (70). Đổi mới công nghệ (44) thuộc Nhóm trụ cột thứ ba cũng có những bước tiến đáng khích lệ, tuy các yếu tố của trụ cột sẵn sàng về công nghệ còn ở mức trung bình (73).
Tuy nhiên, ngay Nhóm trụ cột thứ nhất (các trụ cột 1-4) hiện lại khá khiêm tốn khi có thể chế được đánh giá mức (63), cao hơn mức đánh giá chung, cho thấy cần có những nỗ lực xây dựng nền tảng ban đầu là các vấn đề xã hội (76), cơ sở hạ tầng (94) và ổn định kinh tế vĩ mô (112) đóng góp vào sự phát triển bền vững và nâng cao sức cạnh tranh toàn cầu.
Như vậy, theo cách phân loại này, dường như chúng ta có thể rút ra một kinh nghiệm là đừng bao giờ ngộ nhận về vị thế của nước mình trong bản đồ kinh tế thế giới để có những hoạch định chính sách tương ứng đúng với thế và lực của nước ta.
Đó cũng là vấn đề mà nhiều nhà nghiên cứu đã nói là định vị Việt Nam cho đúng để có chính sách đúng. Trong vấn đề này, việc cung cấp các thông tin chuẩn xác đến các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách, cũng như công khai minh bạch các chính sách phát triển và các thông tin cơ bản về sự phát triển của đất nước, của các ngành và địa phương cũng có ý nghĩa rất quan trọng, vì sự phát triển là công việc chung của cả đất nước, của toàn dân tộc.
Nói như vậy, không có nghĩa là chúng ta phủ định việc “đi tắt, đón đầu”, mà vấn đề là ở liều lượng của các chính sách. Cũng theo báo cáo của WEF đã nêu, liều lượng của các trụ cột phát triển có thể “phân bổ” hợp lý, thích ứng với các giai đoạn phát triển theo tỷ lệ định lượng đại thể như sau:
Các giai đoạn phát triển / Các nhân tố phát triển
Giai đoạn chú trọng các nhân tố tạo lực
Giai đoạn cho nền kinh tế tăng cường hiệu quả
Giai đoạn cho kinh tế hướng vào đổi mới
Các nhu cầu cơ bản
60%
40%
20%
Thúc đẩy nâng cao hiệu quả
35%
50%
50%
Các nhân tố đổi mới (công nghệ) và tinh vi
5%
10%
30%
Nguồn: Báo cáo cạnh tranh toàn cầu 2009/2010
Như vậy, ngay trong giai đoạn khởi động nền kinh tế như nước ta, bên cạnh việc dành 60% sự chú ý cho các nhu cầu cơ bản về thể chế, cơ sở hạ tầng, ổn định kinh tế vĩ mô và phát triển xã hội, ngay từ lúc này cũng phải dành đến 40% sự chú ý tới các yếu tố của các giai đoạn phát triển cao hơn (35% cho vấn đề hiệu quả và 5% cho các vấn đề đổi mới công nghệ và phát triển theo hướng tinh vi hơn).
Trong khi, ngay các nền kinh tế đã phát triển cao, thì vẫn không thể bỏ qua từ 20-40% sự chú ý tới sự phát triển dựa vào các nhu cầu cơ bản đã được tập trung trong giai đoạn khởi động nền kinh tế.
Tuy nhiên, cũng thấy rằng, ngay từ lúc này và mãi mãi trong các giai đoạn phát triển, vấn đề nâng cao chất lượng và hiệu quả luôn luôn chiếm vị trí quan trọng bậc nhất (đến 50%, so với các nhân tố khác chỉ chiếm 10-40%) trong hai giai đoạn phát triển cao, và cũng không thể xem thường ngay trong giai đoạn hiện nay.
Đó là một trong các chỉ đạo của phó Chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Thị Hồng tại hội nghị tổng kết công tác xúc tiến thương mại và đầu tư 2009 – kế hoạch 2010 của Trung tâm Xúc tiến thương mại và đầu tư TP.HCM (ITPC) chiều 27.1.2010. Bà Nguyễn Thị Hồng nhấn mạnh: với công tác xúc tiến thị trường nước ngoài, ITPC cần xác định thị trường trọng điểm, nơi người tiêu dùng các nước có thể tiếp cận với sản phẩm hàng hoá Việt Nam.
FedEx Express, công ty con của Tập đoàn FedEx (Tên niêm yết trên thị trường chứng khoán New York: FDX) và là một trong những công ty chuyển phát nhanh lớn nhất thế giới, vừa công bố kết quả nghiên cứu cho thấy những thách thức và các cơ hội mới cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ Châu Á (SMEs) ra đời từ cuộc khủng hoảng tài chính và sự phục hồi của nền kinh tế thế giới.
“Nền kinh tế đang trên đà hồi phục”, nhận định này được nhiều chuyên gia đưa ra tại hội thảo “Hoạch định chính sách tài chính thời kỳ hậu khủng hoảng” vừa diễn ra tại Hà Nội.
2010 là năm cuối cùng của kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm 2006-2010, cũng là năm bản lề để nước ta xây dựng kế hoạch phát triển 5 năm tiếp theo. Báo NLĐ tổ chức bàn tròn để cùng các chuyên gia kinh tế bàn về hướng đi của năm quan trọng này
Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành Thông tư số 07/2010/TT-NHNN cho phép các ngân hàng thương mại được thực hiện lãi suất thỏa thuận đối với các khoản vay trung và dài hạn và có hiệu lực từ ngày 26-2-2010. Ðiều đó có nghĩa là ngân hàng có thể thỏa thuận với khách hàng để cho vay với lãi suất cao hơn lãi suất trần cho các khoản vay trung và dài hạn.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Ở ấp 3, xã An Khương, thị xã Bình Long (Bình Phước), những bé gái người dân tộc S’tiêng cứ vào độ tuổi 15-16 đã đi lấy chồng, rồi phải sớm gánh vác trọng trách làm vợ và thiên chức làm mẹ.
Theo nhận định của Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc về tình hình giá cả đầu năm, tại phiên họp thường kỳ Chính phủ ngày 3/2/2010, việc điều chỉnh giá một số mặt hàng như xăng, dầu, điện, than vừa qua là bình thường. Chính phủ chỉ đạo, việc điều chỉnh giá điện và than lần này là lần duy nhất trong năm 2010. Đồng thời, việc điều chỉnh giá xăng, dầu trong thời gian tới cũng hết sức thận trọng.
Công tác đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB) năm 2010 sẽ tiếp tục là động lực quan trọng thúc đẩy phát triển KT-XH, song tỷ trọng đầu tư từ ngân sách sẽ giảm mạnh, nên nhiệm vụ trọng tâm của bài toán đầu tư là thu hút hiệu quả các nguồn lực xã hội, sử dụng hết và có chất lượng từng đồng vốn.
Đây là dự báo của Công ty Tư vấn và Tiếp thị bất động sản CB Richard Ellis (CBRE), có trụ sở ở bang California (Mỹ) và đã thành lập chi nhánh ở Việt Nam.
Năm 2010, sẽ tránh các hiện tượng “neo giá” quá cao hoặc “đông giá” quá thấp một cách bất hợp lý, bất chấp sự thay đổi của giá thị trường thế giới và các yếu tố hình thành giá. Đây là một trong những nguyên tắc điều hành giá 2010 vừa được đại diện Bộ Tài chính cho biết trong cuộc họp giao ban báo chí ngày 2/3.
Năm 2009 đã khép lại với những nỗ lực chống suy giảm kinh tế của Việt Nam. Trong bối cảnh kinh tế thế giới tăng trưởng âm, Việt Nam vẫn đạt tốc độ tăng GDP trên 5%. Chính sách chống suy giảm kinh tế do Chính phủ ban hành kịp thời trong năm 2009 là một trong những yếu tố quan trọng giúp kinh tế Việt Nam vững bước vượt qua khó khăn.
16 giờ 30 ngày 1.3, khu chợ “ngồi xổm” Việt Lập, Bình Đường, Dĩ An (Bình Dương) nêm chật cứng những sắc màu đồng phục công nhân. Chị Luyến, công nhân may công ty Việt Thắng vừa định ngồi xuống chọn mấy trái dưa leo đành phải quay ngoắt đi chỗ khác khi nghe người bán nói giá 25.000đ/kg.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.