Chỉ tiêu GDP ngày nay được nhắc đến nhiều trong các báo cáo thành tích cuối năm. GDP tăng trưởng cao thường gắn liền với sự hãnh tiến, còn khi GDP tăng trưởng thấp lại là một nỗi lo âu.
Nhiều người thường đánh đồng ý niệm tăng trưởng kinh tế với tăng trưởng GDP, điều này là sai lầm về nhận thức. Bởi vì, có thể GDP tăng vọt nhờ vào thiên tai, lãng phí, tham nhũng, nhờ những công trình mà sau khi xây dựng xong, người ta không biết phải dùng vào việc gì.
Robert Kennedy đã từng nói"Trong GDP có cả ô nhiễm môi trường và quảng cáo thuốc lá... Nó tính cả những ổ khoá của cửa nhà chúng ta, và cả những nhà tù cho những ai phá khoá. Nó tăng cùng với việc sản xuất bom napan, tên lửa và đầu đạn hạt nhân...Và nếu GDP bao gồm tất cả những thứ này, thì lại có rất nhiều thứ khác nó không tính tới như tình cảm của con người, vẻ đẹp của thi ca...".
GDP chỉ là một chỉ tiêu rất sơ cấp trong Hệ thống các tài khoản quốc gia của Liên Hiệp Quốc (System of National accounts-SNA) được các nhà kinh tế hàng đầu thế giới đứng đầu là Richard Stone (Nobel 1984) đưa ra. Hệ thống này đã tập hợp một cách hệ thống các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô quan trọng nhằm mô tả, phân tích các hiện tượng kinh tế cơ bản. Hệ thống SNA mô tả quá trình chu chuyển sản phẩm và tiền tệ trong một quốc gia, nó là một tập hợp đầy đủ, phù hợp và linh hoạt các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô. Các chỉ tiêu này được xây dựng trên các khái niệm, định nghĩa và quy tắc chuẩn mực được thừa nhận trên phạm vi toàn thế giới.
Hệ thống SNA phục vụ nhiều mục đích khác nhau, trong đó mục đích cơ bản là cung cấp thông tin để phân tích và hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô làm cơ sở cho các nhà quản lý và lãnh đạo các cấp giám sát, nghiên cứu, điều hành và ứng xử với nền kinh tế..
Từ năm 1954-1975 đất nước Việt Nam chia làm 2 miền thuộc 2 chế độ chính trị khác nhau. Ở miền Bắc, ngành Thống kê áp dụng phương pháp luận của "Hệ thống các bảng cân đối vật chất-MPS". Ở miền Nam, Viện thống kê thuộc chính quyền Sài gòn áp dụng "Hệ thống các tài khoản quốc gia-SNA". Thời kỳ 1976-1988 đất nước thống nhất, ngành Thống kê áp dụng MPS cho phạm vi cả nước. Từ 1989 đến nay, đặc biệt ngày 25 tháng 12 năm 1992, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định 183/TTg về việc chính thức áp dụng hệ thống SNA trên phạm vi cả nước thay cho hệ thống MPS trước đây.
Trong SNA, 1993 bao gồm các tài khoản và các chỉ tiêu cân đối như : Tài khoản sản xuất và tài khoản tạo thu nhập. Hai tài khoản này được mô tả chi tiết bằng bảng Nguồn và Sử dụng (Supply and Use tables) và bảng I-O; chỉ tiêu cân đối là GDP. Ngoài ra, còn có Tài khoản thu nhập và phân phối thu nhập. Ba tài khoản này cũng có thể được miêu tả bằng ma trận như ma trân hạch toán xã hội (SAM); các chỉ tiêu cân đối là tổng sản phẩm trong nước (GDP), thu nhập quốc gia (GNI), thu nhập quốc gia khả dụng (NDI) và để dành (Saving) của các khu vực thể chế.
GDP= Tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình + tiêu dùng cuối cùng của nhà nước + tích luỹ tài sản + xuất khẩu - nhập khẩu (phương pháp sử dụng cuối cùng) = tổng thu nhập của người lao động từ sản xuất + tổng thăng dư sản xuất + tổng khấu hao tài sản cố định + tổng thuế gián thu và thuế sản xuất khác + thuế nhập khẩu - Trừ trợ cấp cho sản xuất (phương pháp phân phối) = Tổng giá trị sản xuất - tổng chi phí trung gian + thuế nhập khẩu (phương pháp sản xuất)
GNI= GDP + thu nhập từ sở hữu thuần
NDI= GNI + thu nhập từ chuyển nhượng hiện hành thuần
Để dành= NDI - Tiêu dùng cuối cùng
Hiện nay, cơ quan Thống kê Việt Nam tính toán GDP từ phía cung, tức là cộng tất cả giá trị tăng thêm của các ngành kinh tế và thuế gián thu (Trừ trợ cấp, trợ giá) và hầu hết các nhà Thống kê cho rằng đó cũng là ý nghĩa của GDP. Như vậy, GDP theo tổng cầu cuối cùng chỉ được sử dụng như một sự đối chiếu với phía cung.
Cách làm này, có thể được hiểu trong tư tưởng vẫn mang nặng theo lối suy nghĩ về chỉ tiêu "Thu nhập quốc dân" trong Hệ thống "Cân đối vật chất - MPS" trước đây.
Từ cách tư duy này dẫn đến những phương pháp và khái niệm không đồng bộ trong các bộ phận chuyên ngành của cơ quan Thống kê. Ví dụ: Giá trị sản xuất công nghiệp của các doanh nghiệp làm gia công như dệt may, giầy da chỉ tính phần gia công, trong khi xuất khẩu lại tính cả giá trị sản phẩm.
Như vậy, về mặt kỹ thuật không thể cân đối vĩ mô nền kinh tế và thành tích xuất khẩu cũng chẳng còn ý nghĩa.
Hơn nữa, khi cân đối nguồn và sử dụng GDP, phía sử dụng (demand size) bao gồm tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình như chi tiêu từ nguồn chính thức và từ nguồn thu không chính thức của người dân.
Trong khi đó, phía cung nguồn thu không chính thức không được tính vào tổng giá trị tăng thêm. Như vậy, tất nhiên sự sai số giữa nguồn và sử dụng sẽ bị dồn vào tích lũy, nhưng càng ngày tỷ lệ tích lũy tài sản/ Vốn đầu tư càng thấp đi. Hiện tượng này rất khó lý giải về độ chính xác của số liệu.
Ngay như về phía cung bao gồm các yếu tố rất cơ bản của nền kinh tế như lao động (L) và vốn tư bản (K), đặc biệt là chỉ tiêu vốn cũng không được cơ quan Thống kê tính đến.
Tốc độ tăng trưởng GDP thường được tính từ GDP theo giá so sánh. Chuyển GDP từ giá thực tế về giá so sánh là một vấn đề rất phức tạp. Việt Nam tính GDP từ phương pháp sản xuất (là cơ bản) việc tính chuyển GDP về giá so sánh theo quốc tế cần lấy trọng số (quyền số) từ bảng I-O.
Điều kỳ lạ, ở chỗ là năm gốc mà Tổng cục Thông kê chọn lại là những năm không có bảng I-O (giá 94)!?. Bởi vậy, GDP theo giá so sánh để từ đó tính ra tốc độ tăng trưởng, được tính toán như thế nào vẫn còn là một câu hỏi lớn?
Nói tóm lại, các con số GDP nhiều khi làm cho người hoạch định chính sách phát triển, và ngay cả nhiều vị đại biểu Quốc hội cũng dễ bị ngộ nhận, ảo tưởng vào số liệu thống kê!
"Vốn đầu tư" không phải vốn và không hoàn toàn là đầu tư
Định nghĩa tổng quát nhất về đầu tư: "Đầu tư là phần sản lượng được tích lũy nhằm tăng năng lực sản xuất tương lai của nền kinh tế". Vốn (hay tư bản - capital stock) tại một thời điểm nào đó được định nghĩa băng giá trị tổng các đầu tư qua các năm, tính đến thời điểm đó trừ đi phần hao mòn tài sản cố định lũy kế.
Theo quốc tế để tính toán giá trị vốn tại thời điểm nào đó người ta cộng tất cả các đầu tư trước đó, rồi trừ đi khấu hao tài sản cố định hàng năm.
Phương pháp thứ 2 để xác định giá trị của vốn tại một thời điểm nào đó người ta căn cứ vào giá thị trường hiên tại của khối lượng vốn này. Xin lưu ý, phương pháp thứ 2 là rất khó thưc hiện bởi muốn xác định cần phải có tông điều tra (kiểm kê) tài sản trên phạm vi toàn quốc.
Hai ý niệm cơ bản trên hoàn toàn xa lạ với Việt Nam. Hiện nay, cơ quan thống kê Việt Nam có chỉ tiêu "Vốn đầu tư..." thực chất chỉ tiêu này không phải vốn cũng không hoàn toàn là đầu tư.
(Tác giả: TÔ VĂN TRƯỜNG - BÙI TRINH // TuanVietnam)
Trước thềm Hội nghị nhóm các nhà tài trợ cho Việt Nam (CG) giữa kỳ, sẽ diễn ra tại Kiên Giang vào ngày 9 và 10-6 tới đây, Ngân hàng Thế giới (WB) đưa ra dự báo Việt Nam có thể đạt tốc độ tăng trưởng 7% trong năm nay và kiềm chế lạm phát ở mức 9%. Theo WB, Chính phủ Việt Nam đã đưa ra những giải pháp kịp thời ứng phó với các thay đổi điều kiện kinh tế.
Bảng xếp hạng về chỉ số thúc đẩy thương mại gồm 125 nền kinh tế trên thế giới, riêng thứ hạng của các quốc gia ASEAN được Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) đề cập qua bản báo cáo về thúc đẩy thương mại trong ASEAN, đã được công bố ngày 3/6 tại Việt Nam.
Năm 2011 nỗ lực phấn đấu thúc đẩy sản xuất phát triển, lấy lại đà tăng trưởng của nền kinh tế; ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và phát triển bền vững. Phấn đấu năm 2011, tăng tổng sản phẩm trong nước(GDP) đạt 7,0% - 7,5%.
Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính cân đối, bố trí đủ kinh phí để Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện và hoàn thành Đề án "Điều tra, đánh giá tiềm năng sa khoáng titan-zircon trong tầng cát đỏ vùng Ninh Thuận, Bình Thuận và Bắc Bà Rịa -Vũng Tàu" trong năm 2010.
Biến đổi khí hậu (BĐKH) đã trở thành vấn đề nóng bỏng, quan trọng và có tác động toàn diện đến sự phát triển bền vững của thế giới. Ở Việt Nam, ước tính sẽ có hàng triệu hécta đất bị ngập, hàng chục triệu người có thể bị mất nhà cửa nếu nước biển dâng cao.
"Nếu các tổ chức kinh tế lớn có vai trò mà ta gọi là "vị thế nhà nước", họ sẽ có nhiều quyền lực đến độ có thể tạo ra ảnh hưởng cho những chính sách của chính phủ. Rồi sau đó, chính phủ có thể sẽ đứng về các nhóm lợi ích thay vì lợi ích của nhân dân"... Chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng Thế giới (WB) Martin Rama trả lời câu hỏi liên quan đến dự án đường sắt cao tốc Bắc - Nam.
Ý tưởng hình thành trục Thăng Long và chuyển trung tâm hành chính lên Ba Vì đã không thuyết phục được nhiều đại biểu khi đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, được Quốc hội thảo luận tại tổ chiều 3/6.
Cần đề phòng những tác động không đúng đắn của các nhóm lợi ích, ảnh hưởng tới các định hướng của quy hoạch, là đề nghị được Ủy ban Kinh tế đặc biệt nhấn mạnh khi xem xét đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến 2030 và tầm nhìn đến năm 2050.
Phát biểu tại Hội nghị giữa kỳ nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho VN diễn ra tại Kiên Giang ngày 9-6, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định mức dự trữ ngoại tệ cả năm 2010 có thể đạt 12 tuần nhập khẩu, mức an toàn; lạm phát cũng được kiềm chế ở mức 8%...
Anh Trần Phú Nam, chủ cơ sở dịch vụ diệt côn trùng Việt Xanh, ngồi vật vờ trong phòng Đăng ký kinh doanh số 2 của Sở KH-ĐT Hà Nội, vô cùng đau khổ vì cả tháng nay vẫn không có dấu doanh nghiệp, trong khi khách hàng thì giục ký hoàn tất hợp đồng.
Ông Trần Đình Bá, Hội Kinh tế Vận tải Đường sắt Việt Nam (ĐSVN) cảnh báo, để cả một hệ thống đường sắt khổ 1m lạc hậu mà tham vọng lao theo dự án đường sắt cao tốc (ĐSCT) chẳng khác nào lao theo vết xe đổ của đường sắt Nhật Bản.
Hoạt động 24/24, hệ thống này được hi vọng sẽ phát hiện kịp thời những doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường tại các khu công nghiệp (KCN).
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.