Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Việt Nam năm 2009 đã dừng ở mức dưới 7% - Ảnh: AP.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) cả năm 2009 đạt 6,88%, Chính phủ đã thực hiện được cam kết với Quốc hội, là một trong những thông tin đậm nét trên nhiều tờ báo những ngày cuối năm 2009.
Lần lượt đọc lại báo cáo thẩm tra tình hình kinh tế xã hội và những ý kiến thảo luận từ kỳ họp Quốc hội thứ 2 đến nay cũng cho thấy chỉ số này luôn được các vị đại biểu Quốc hội quan tâm. Điều này cũng dễ lý giải vì CPI phản ánh trực tiếp khó khăn của người dân khi giá cả leo thang.
Trong các tài liệu đăng trên Cổng thông tin điện tử của Quốc hội, ngay từ kỳ họp thứ 2, đã có những ý kiến dự báo chỉ số CPI năm 2008 sẽ tăng cao. Nhưng tiếc là dự báo đó đã không được quan tâm đúng mức, dẫn đến kỳ họp thứ 3 lại phải có những điều chỉnh.
Tại kỳ họp thứ 3 và thứ 4, cũng đã có những đề xuất về tái cơ cấu nền kinh tế cho phù hợp với tình hình mới. Song, một lần nữa vấn đề lại “nhẹ nhàng” trôi qua.
Đến kỳ họp thứ 5 và thứ 6 vừa qua Quốc hội lại thảo luận và bắt tay vào nghiên cứu để sử dụng nguồn vốn kích thích kinh tế phục vụ cho việc tái cơ cấu nền kinh tế. Đến nay, gói kích cầu đã hoàn thành nhiệm vụ, tiền đã chi nhưng định hướng về một mô hình phát triển mới vẫn chưa được hình thành rõ nét.
Chúng ta vẫn hay nói với nhau thời gian cũng là lực lượng, nhưng qua một vài ví dụ nêu trên có thể thấy rằng chính chúng ta đã lãng phí biết bao.
Dịp kỷ niệm 65 năm thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam vừa qua, câu chuyện về cố Đại tướng Lê Trọng Tấn trong những ngày chỉ huy chiến dịch Đường Chín - Nam Lào được kể lại: “khi nghe anh em Việt Nam thông tấn xã báo cáo địch hủy cuộc họp báo quốc tế dự kiến tổ chức tại Sepon (Lào), ông suy nghĩ và kết luận địch chuẩn bị rút chạy. Ông hội ý với Chính ủy Lê Quang Đạo và chỉ huy bộ đội xây dựng phương án đánh địch rút chạy. Kết quả diễn biến tình hình đúng như dự báo, ta thắng lớn”.
Từ một thông tin của một cơ quan không liên quan đến quân sự, tưởng chừng như không liên quan đến những trận đánh của chiến dịch, người chỉ huy đã nắm bắt và đặt thông tin đó trong điểm cuối của chuỗi sự việc liên tục của tình hình chiến trường để có những phán đoán chính xác, đưa ra những quyết định kịp thời.
Cũng từ hai mẩu chuyện tưởng chừng như không liên quan gì đến nhau này lại có một vấn đề chung xuất hiện: các cơ sở khoa học của việc ra quyết định. Chiến tranh có quy luật khắc nghiệt, thắng bại của một trận đánh, của một chiến dịch phải tính bằng máu xương của người lính. Trong bối cảnh đó, người lính không tiếc máu xương vì độc lập, tự do của tổ quốc, nhưng trách nhiệm người chỉ huy là phải hạn chế đến mức thấp nhất sự hy sinh đó.
Phát triển kinh tế cũng có những quy luật khắc nghiệt không kém, nhưng sẽ chậm nhận ra hơn vì nó tác động từ từ đến sinh hoạt, đến chất lượng cuộc sống người dân. Vì vậy, cũng có thể nói rằng một nền kinh tế tăng trưởng cao nhưng đời sống người dân không được cải thiện tương xứng thì mô hình phát triển đó cần được cân nhắc.
Năm 2009 mới đi qua, nhiều quyết định quan trọng tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế xã hội đã được thực hiện, trong đó có việc áp dụng gói hỗ trợ lãi suất 4%. Đây đã từng là một sự kiện nóng bỏng, thu hút sự quan tâm đặc biệt của dư luận.
Ngay từ những tháng đầu năm, khi triển khai các biện pháp điều hành nền kinh tế, Chính phủ đã đưa ra chính sách hỗ trợ các khoản vay tại ngân hàng của doanh nghiệp và cá nhân, không phân biệt thành phần kinh tế, giúp doanh nghiệp - cá nhân kinh doanh vượt qua được khó khăn để duy trì sản xuất, giữ được việc làm cho người lao động. Chính sách này, nếu so sánh với các nước cũng phải triển khai gói cứu trợ tương tự, được đánh giá là triển khai sớm.
Nhưng khi chuẩn bị kết thúc theo đúng thời gian đã công bố, trong kỳ họp cuối năm của Quốc hội vừa qua nhiều ý kiến đã diễn ra trái chiều nhau. Nhìn chung có thể chia thành ba nhóm ý kiến.
Nhóm thứ nhất được thể hiện trong báo cáo của Chính phủ, đề xuất kéo dài hỗ trợ lãi suất với lập luận là không thực hiện chính sách tiền tệ “giật cục”, tránh cho doanh nghiệp bị sốc như khi thắt chặt tiền vay tại các ngân hàng.
Nhóm thứ hai được thể hiện trong báo cáo thẩm tra tình hình kinh tế xã hội của Quốc hội là chấm dứt hỗ trợ đúng thời gian công bố ban đầu của Chính phủ. Lý do được đưa ra là chính sách đặc biệt nhằm “hỗ trợ sản xuất, giữ việc làm” nên khi nền kinh tế đã chuyển động dần vào quỹ đạo thì cần chấm dứt để tôn trọng quy luật của nền kinh tế thị trường.
Nhóm thứ ba đề xuất kéo dài chính sách hỗ trợ đến hết quý 1/2010 và với mức độ hỗ trợ 2%, với lập luận là tận dụng hết các ưu điểm của cả hai phương án nêu trên.
Trước tình hình ý kiến thảo luận còn phân tán, trong báo cáo giải trình của Chính phủ đã đề xuất xem xét toàn diện, tức là cần thêm thời gian để đánh giá và sẽ ban hành chính sách hỗ trợ cụ thể vào tháng 12/2009.
Đến nay, Chính phủ đã quyết định dừng việc hỗ trợ lãi suất cho các tổ chức, cá nhân vay vốn ngân hàng để sản xuất - kinh doanh với mức lãi suất 4%. Tất nhiên trước quyết định dứt khoát của Chính phủ như vậy, một số tổ chức, cá nhân vốn vẫn có những hy vọng sẽ được tiếp tục được sử dụng miễn phí Ngân sách Nhà nước sẽ thất vọng. Sẽ có những ý kiến phát biểu so sánh và phê phán là dùng “liệu pháp sốc” hoặc không quan tâm đến doanh nghiệp nhỏ và vừa…
Nhưng, nền kinh tế có những quy luật riêng của nó. Trong điều kiện đã công khai minh bạch gói kích cầu theo Quyết định 131 ngay từ ngày 23/01/2009 về thời gian và mức độ thì việc dừng lại là tất yếu. Mặt khác, những tác động không mong muốn khi thực thi chính sách này ngày càng lớn dần, nếu không sử lý kịp thời sẽ có những tác động dây chuyền lên chính sách ngoại hối, đến dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng… và tất nhiên, đến cả chỉ số CPI mà các đại biểu Quốc hội rất quan tâm như đã nói ở trên.
Nhìn lại chỉ số CPI tháng 12/2009 và so sánh với những tháng trước đó, có thể đủ điều kiện nhận xét việc “dừng” của Chính phủ là phản ánh được quy luật đang diễn ra của sự việc.
Và, người viết bài này, với tư cách là một đại biểu Quốc hội, nhận thấy rằng, trong một nền kinh tế còn nhiều tồn tại yếu kém, những thông tin phản ánh diễn biến kinh tế chưa đủ và chưa được cập nhật thường xuyên thì việc đưa ra quyết định là rất khó khăn. Nhưng khi không thể không đưa ra quyết định vì dòng chảy sự kiện là liên tục thì vai trò (tạm gọi) là của người chỉ huy (bao gồm cả những vị đại biểu Quốc hội) có ảnh hưởng rất lớn đến công việc khó khăn này.
Và như vậy, người chỉ huy sẽ phải tự xác định những thông tin “cần” để có thể đưa ra được quyết định kịp thời, chính xác.
Sau gần 25 năm mở cửa hướng mạnh vào xuất khẩu, lại một lần nữa tinh thần dân tộc được đặt lên hàng đầu với cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam". Đây là thời cơ lớn cho doanh nghiệp Việt tìm về thị trường trong nước.
Không có những đột biến lớn, không bất thường về quy luật, diễn biến chỉ số giá tiêu dùng năm 2009 cho cảm giác khá trầm lắng. Nhưng trong một năm nền kinh tế trầm, thăng phức tạp, CPI vẫn có sự đảo chiều tương ứng.
Từ khi mở cửa hội nhập đến nay, Việt Nam đã đạt những thành tựu to lớn, tốc độ tăng trưởng cao. Tuy vậy, nền kinh tế vẫn chứa đựng nhiều yếu tố phát triển không bền vững, chất lượng tăng trưởng, hiệu quả và tính cạnh tranh chưa cao.
Trong 2 ngày 6 và 7-1, tại Hà Nội, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã chủ trì Hội nghị triển khai kế hoạch phát triển KT-XH và dự toán ngân sách nhà nước năm 2010. Đại diện các bộ, ngành, địa phương trên cả nước đã về dự.
So với năm 2009, cách nhìn về triển vọng của kinh tế Việt Nam năm 2010 đã đổi chiều. Hi vọng và tin tưởng lớn hơn lo sợ và nghi ngờ. Đa số giới kinh doanh đặt kỳ vọng vào khả năng nền kinh tế sẽ phát triển thuận lợi trong năm 2010.
Dù kim ngạch xuất nhập khẩu giảm sút, lượng kiều hối không bằng 2008 nhưng với chính sách kích thích kinh tế được Chính phủ triển khai ngay từ đầu năm, GDP năm 2009 của Việt Nam đã đạt con số lạc quan trong bối cảnh nền kinh tế thế giới suy giảm.
Là thành phố lớn nhất nhì Việt Nam, thành phố Hồ Chí Minh nằm ở vị trí khá thấp nên dễ dàng bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu, đặc biệt là hai hiện tượng nước biển dâng và các dạng thời tiết khắc nghiệt. Đó cũng là kịch bản chung cho toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Biến đổi khí hậu (BĐKH) đã được nhắc đến rất nhiều ở Việt Nam, một số người dân đã nghe tới cụm từ này. Nhưng, điều quan trọng nhất là chiến đấu hay thích ứng, là việc chung sống với thiên nhiên hay cải tạo thiên nhiên, khuất phục thiên nhiên thì, đến bây giờ, vẫn là một cuộc chiến thực sự giữa các chuyên gia.
Theo báo cáo công bố tình hình kinh tế xã hội năm 2009 của Tổng cục Thống kê được công bố ngày 31/12, trong năm 2009, Việt Nam đã hoàn thành hai mục tiêu khó khăn là chống suy giảm kinh tế và duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế hợp lý, bền vững; đồng thời chủ động phòng ngừa lạm phát cao trở lại.
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Ông Nguyễn Tiến Thỏa, Cục trưởng Cục Quản lý giá đánh giá, tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2010 có thể đạt mức 6,5% như dự kiến, nhưng sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn, trong đó đáng chú ý là lạm phát có nguy cơ tăng cao trở lại.
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.