Tại buổi Tọa đàm “Kinh tế Việt Nam năm 2009 và triển vọng năm 2010”, do Hội doanh nhân trẻ TP.HCM tổ chức cuối tuần qua, có nhắc đến vấn đề đáng lưu ý: Làm thế nào để Việt Nam thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình” và vươn lên con Rồng châu Á? Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cho rằng: “Chính phủ cần có chính sách vĩ mô cho quá trình rượt đuổi này, còn về phía doanh nghiệp phải nâng cao năng lực cạnh tranh, trong đó quan trọng nhất là nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm, chuyển dần từ cạnh tranh bằng giá rẻ sang cạnh tranh bằng chất lượng và sáng tạo”.
Để tránh cái “dớp” của một đất nước bị ám ảnh bởi nghèo đói và dư âm chiến tranh tàn phá, việc “mở cửa” những năm cuối thập niên ’80 đã đưa nước ta thoát khỏi nước nghèo. Sau hơn 20 năm, với ước mơ thành “Rồng châu Á”, chúng ta vẫn đang ở mức nước có thu nhập trung bình. Nghĩa là mới chỉ bước lên đúng một bậc thang giá trị sống. Điều này khiến chúng ta sốt ruột, đặc biệt là các nhà cải cách kinh tế, và sau nữa chính là người dân, với nhu cầu được sống trong một xã hội với môi trường có chất lượng về cả mặt văn hóa lẫn kinh tế.
Vì vậy, câu hỏi đặt ra cho chúng ta là: làm thế nào để thoát khỏi cái bẫy thu nhập trung bình?
Lịch sử phát triển của các nền kinh tế trong khu vực đã cho thấy trong thế kỷ trước, sau Nhật bản, 4 “con rồng châu Á” (Hồng Kông - Singapore - Hàn Quốc - Đài Loan) đã mất khoảng 25 - 30 năm để hóa rồng, trong khi nhiều nước khác đạt mức thu nhập trung bình đã 25 -3 0 năm hoặc lâu hơn nữa, nhưng đến nay vẫn còn cách mục tiêu hóa rồng khá xa. Riêng nước ta, sau những năm khủng hoảng nặng nề do hậu qủa của chiến tranh và cơ chế kinh tế cũ, đã phải mất gần 25 năm cải cách mới ra khỏi được ngưỡng nghèo. Dù đó là một thành tựu đáng tự hào, song chúng ta không thể thỏa mãn với những gì đã đạt được, đặc biệt khi nhìn ra xung quanh có thể thấy rõ mình còn đang tụt lại biết bao so với các nước khác, kể cả các nước thu nhập trung bình trong khu vực.
Thời đại ngày nay với tốc độ phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, với thị trường rộng mở trong một thế giới toàn cầu hóa, với trí tuệ và năng lực của con người vượt trội nhiều lần so với cách đây chỉ vài chục năm, các quốc gia hoàn toàn có thể không cần đến 25-30 năm để trở nên giàu có. Vấn đề là mỗi nước có học được, vạch ra được và thực hiện được những đường hướng đúng đắn, thông minh để phát triển hay không.
Để nhìn “người ta”, chúng ta nhớ lại trong cuốn “Đông Á phục hưng” do Ngân hàng Thế giới xuất bản năm 2008, đã nêu rõ những bài học để hóa rồng của các nước châu Á. Đó là, muốn đi từ một nước thu nhập trung bình lên giàu có, các nước phải thực hiện ba sự chuyển đổi quan trọng: từ đa dạng hóa sang chuyên môn hóa, từ tích lũy sang sáng tạo, từ kỹ năng cơ bản sang kỹ năng tiên tiến. Người ta cũng nhận định một số nước châu Á đã thành công trong hội nhập khu vực, hội nhập quốc tế, nhờ vậy đã thoát nghèo, trở thành nước thu nhập trung bình, và ngày nay để vươn lên giàu có, các nước đó phải thực hiện cuộc hội nhập thứ ba - hội nhập bên trong nước mình.
Vì thế, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cho rằng: “Thực hiện 3 sự chuyển đổi này đối với nước ta chính là chuyển sang mô hình tăng trưởng mới, không theo bề rộng mà theo chiều sâu, lấy hiệu quả, chất lượng làm thước đo chính. Không dựa chủ yếu vào khai thác tài nguyên, sức lao động giá rẻ và vốn đầu tư lớn mà dựa chủ yếu vào công nghệ, tính sáng tạo và năng suất lao động để tăng trưởng. Tạo nên lợi thế của mình để tham gia dây chuyền sản xuất trong khu vực và toàn cầu một cách hữu hiệu nhất".
Còn việc thực hiện cuộc hội nhập bên trong, theo bà: “Chính là xây dựng một môi trường tự do, bình đẳng, bảo đảm điều kiện tối đa cho sự phát triển sáng tạo của mỗi con người trong một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Và những “công cụ” chủ yếu để thực hiện những việc trên chính là một nhà nước trong sạch, vững mạnh, một đội ngũ doanh nhân - doanh nghiệp năng động, sáng tạo, và một nền giáo dục tiên tiến, mở cơ hội học tập và phát triển không ngừng cho mọi người dân”.
Năm 2010, cơ hội và thách thức, cũng là thời cơ mà chúng ta nhấc chân cao lên một chút để vượt ngưỡng “trung bình”, vì vậy, chúng ta cũng nên lưu tâm những điều mà tạp chí Kinh doanh của đại học Harvard tháng 8/2009 đã đưa ra, với đầy đủ những yếu tố rất cần cho doanh nghiệp tham khảo, như một kiến thức căn bản cho việc thoát khủng hoảng để nhân đó mà thoát bẫy thu nhập trung bình.
10 xu thế đáng quan tâm sau khủng hoảng
Theo tạp chí Kinh doanh của đại học Harvard tháng 8.2009
1.Tài nguyên thiên nhiên dần cạn kiệt (dầu, năng lượng, nước…) → hiệu suất nguồn lực là trung tâm của cạnh tranh.
2.Triển vọng của toàn cầu hóa bị thách thức (các thị trường dịch vụ, hàng hóa, lao động vốn… thay đổi, xu hướng bảo hộ tăng)
3.Niềm tin vào kinh doanh bị xói mòn (đối với DN và hệ thống quản trị)
4.Chính phủ có vai trò lớn hơn (Kích thích kinh tế, điều chỉnh thể chế)
5.Quản lý trở thành một ngành khoa học (và tính năng động)
6.Thói quen tiêu dùng thay đổi (thế giới đa cực, trung tâm: châu Á)
7.Sự nổi lên của châu Á (tăng trưởng cao, đầu tư chính phủ)
8.Các nền công nghiệp chuyển sang trạng thái mới (phân công sâu)
9.Các sáng kiến nở rộ (đầu tư cho công nghệ cao để bức phá)
10.Sự ổn định giá cả không còn bền vững (chính sách giá, chính sách mua bán)
Giám đốc doanh nghiệp tư nhân có trụ sở ở Hà Nội, Trần Đức Minh cảm thấy bất an khi đọc bản tin tài chính trên một tờ báo kinh tế cuối tuần trước. Theo bản tin này, một số khách hàng đã bắt đầu phải vay vốn với lãi suất lên đến 19% ở các ngân hàng thương mại. Trong bối cảnh lãi suất ở một số trung tâm tài chính của thế giới như Mỹ, EU và Nhật Bản vẫn đang ở mức thấp kỷ lục từ 0,25 – 0,5%, mức lãi suất ở Việt Nam cho thấy những dấu hiệu không ổn. Ông Minh nói: “Mức lãi suất như thế thì doanh nghiệp nào còn lãi. Nó đã gần với kỷ lục của giữa năm 2008”.
"Xin - cho" là sản phẩm của cơ chế kế hoạch hóa tập trung, thậm chí đồng nhất với cơ chế này, do đó cũng được gọi là cơ chế - "cơ chế xin - cho".
Trong khi suy nghĩ về những số liệu kinh tế vĩ mô Việt Nam của năm 2009 sắp kết thúc, chúng ta vẫn phải tự hỏi: có hay không những mầm mống bất ổn có thể gây bất lợi cho mục tiêu tăng trưởng ổn định và bền vững mà Việt Nam mong muốn?
Cho dù khá nhiều dấu hiệu tích cực xuất hiện, song giới phân tích kinh tế vẫn cho rằng, khó khăn trong quý I/2010 vẫn rất lớn, còn những thuận lợi của năm 2010, theo dự báo, sẽ chỉ xuất hiện vào các quý tiếp theo.
Hầu hết các nhà kinh tế hàng đầu trong nước đều có chung cái nhìn thận trọng về triển vọng kinh tế năm 2010, bất chấp những dự báo lạc quan do các tổ chức quốc tế và các cơ quan nhà nước đưa ra gần đây.
Các tỉnh, thành phố của Việt Nam có thể tăng cường thu hút đầu tư và tăng trưởng kinh tế bằng cách cải thiện tính minh bạch và nâng cao chất lượng lao động, theo kết quả báo cáo Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2009 công bố ngày hôm nay (14/1/2010) tại Hà Nội.
Nhật có lẽ là một trong những quốc gia châu Á thành công nhất về giáo dục đại học. Các đại học của Nhật đứng trong hàng ngũ các đại học danh tiếng trên thế giới. Ngày nay các đại học Nhật còn đào tạo rất nhiều nhà khoa học cho các nước châu Á, kể cả Việt Nam. Do đó, tìm hiểu và suy nghiệm quá trình phát triển giáo dục đại học ở Nhật có thể cung cấp cho chúng ta vài bài học có ích.
Theo ý kiến của nhiều chuyên gia kinh tế, lạm phát 2 con số là khả năng hoàn toàn có thể xảy ra cho năm 2010. Để giảm những áp lực làm tăng lạm phát, gánh nặng một phần được san sẻ cho xuất khẩu với mục tiêu tăng trưởng trên 6% so với năm 2009, tương đương 59,9 tỷ USD.
Tổng hợp kết quả về việc xây dựng và tổ chức triển khai thực hiện chương trình hành động của Chính phủ để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Bộ Công Thương đã nhận được báo cáo của 14 bộ và 37 địa phương.
Gần đến ngày 22/01, thời điểm công bố chỉ số CPI cho tháng đầu tiên của năm 2010, không ít người thấy lo lắng và hồi hộp. Nguyên nhân chính là do những lo ngại về việc Chính phủ có thể tăng lãi suất cơ bản nếu CPI tháng này có chiều hướng tăng cao. Những lo ngại này là hoàn toàn có cơ sở dựa trên hai nguyên nhân chủ yếu sau:
Việt Nam trải qua năm 2009 đầy khó khăn, thách thức, nhưng thành quả đạt được là rất đáng khích lệ. Nhân dịp năm mới 2010, Báo Đầu tư đã bình chọn 10 sự kiện kinh tế - xã hội nổi bật năm 2009.
Tập đoàn tài chính đầu tư Goldman Sachs của Mỹ đã xếp Việt Nam vào nhóm 11 nước (N-11) sẽ có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thế giới và có thể là địa chỉ đầu tư tốt cho các nhà đầu tư thế giới trong những năm tới.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.