Chuyển giao lưới điện hạ áp nông thôn cho ngành Điện thống nhất quản lý sẽ giúp giải quyết dứt điểm các tồn tại kéo dài như quản lý lưới điện manh mún, thiếu tính chuyên nghiệp, năng lực tài chính và trình độ kỹ thuật hạn chế...
Lưới điện do các hợp tác xã quản lý không đảm bảo an toàn - Ảnh Chinhphu.vn
Việc bàn giao lưới điện nông thôn cho ngành Điện quản lý là chủ trương lớn của Chính phủ, vì việc làm này đem lại lợi ích thiết thực cho người dân khu vực nông thôn. Để phản ánh kết quả thực hiện và hiệu quả của công tác tiếp nhận lưới điện nông thôn, phóng viên Cổng TTĐT Chính phủ đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN).
Xin ông cho biết mục đích và ý nghĩa của chương trình tiếp nhận lưới điện hạ áp nông thôn?
Phần lớn lưới điện hạ áp nông thôn nước ta được xây dựng từ 20-30 năm trước đây, không đạt theo tiêu chuẩn kỹ thuật đường dây và an toàn, đường dây dài, dây dẫn tiết diện nhỏ, nhiều chủng loại. Thiết bị đo đếm điện năng mua trôi nổi ngoài thị trường, không được kiểm định, không chính xác, nhiều nơi vi phạm hành lang an toàn lưới điện. Chất lượng điện không đảm bảo có nơi điện áp cuối nguồn xuống dưới 100V, làm tổn thất điện năng (TTĐN) của lưới điện hạ áp nông thôn (LĐHANT) rất cao.
Số liệu theo dõi từng tháng cho thấy TTĐN bình quân trên lưới điện khu vực mới tiếp nhận là 25,14% (tính đến cuối năm 2009). Các công ty điện lực có TTĐN bình quân cao như Nghệ An 38%, Lạng Sơn 36%, Tuyên Quang 35,8%, Hưng Yên 35%, Thanh Hóa 34%... Tỉnh có TTĐN thấp nhất là Lào Cai 16,74% .
Việc quản lý điện nông thôn tại các địa phương đều khoán cho một nhóm người không qua đào tạo nghề điện. Họ chỉ biết thu tiền, không đầu tư nâng cấp nên lưới điện ngày càng xuống cấp.
Mặc dù Chính phủ đã có chính sách trợ giá cho các hộ nông dân song thực tế do công tác quản lý kém, giá điện tại các thôn, xã cao gấp đôi, thậm chí có nơi cao gấp 4-5 lần giá quy định.
Việc EVN tiếp nhận lưới điện hạ áp để bán điện trực tiếp tới khách hàng dùng điện nông thôn sẽ giải quyết cơ bản những bất cập lâu nay trong quản lý và bán điện ở nông thôn của các tổ chức, cá nhân ngoài EVN.
Đối với người dân nông thôn, sẽ được sử dụng điện đúng với mức giá quy định của Nhà nước, trực tiếp được hưởng chính sách hỗ trợ của Chính phủ.
Đối với ngành điện và Nhà nước, lưới điện sau khi tiếp nhận sẽ được cải tạo và duy tu sửa chữa thường xuyên, cùng với các biện pháp quản lý chuyên nghiệp chặt chẽ sẽ giảm tổn thất điện năng, giảm quá tải, khiến hệ thống điện hoạt động an toàn, hiệu quả hơn, giảm sự cố, đồng thời góp phần tích cực trong việc thực hiện chủ trương tiết kiệm điện của Chính phủ, theo đó giảm áp lực trong việc đầu tư phát triển thêm các nhà máy điện.
Ông Nguyễn Mạnh Hùng
EVN đã triển khai tiếp nhận lưới điện hạ áp và kết quả thực hiện như thế nào, thưa ông?
Ngay từ khi có quyết định của Thủ tướng năm 2008 về việc bàn giao lưới điện hạ áp nông thôn cho ngành Điện quản lý, các công ty điện lực đã thành lập Ban chỉ đạo và khẩn trương tổ chức thực hiện chương trình; lập đề án tiếp nhận LĐHANT 3 năm 2008-2010. Lãnh đạo các công ty điện lực đã tiếp xúc để tranh thủ sự ủng hộ của các sở ban ngành liên quan và chính quyền địa phuơng các cấp.
Kết quả, từ tháng 6/2008 đến 6/2010, ngành Điện đã tiếp nhận LĐHANT tại 3.835 xã và 4.673.693 hộ sử dụng điện ở nông thôn. Khối lượng tài sản tiếp nhận bao gồm 910 km đường dây trung áp và 1.410 trạm biến áp, 56.635 km đường dây hạ áp. Tổng giá trị còn lại tài sản hai Bên giao nhận đã ký Biên bản bàn giao là 1.936.148 triệu đồng. Giá trị phải hoàn trả cho bên giao ước khoảng 730.368 triệu đồng.
EVN đã triển khai nâng cấp lưới điện như thế nào?
Sau khi tiếp nhận LĐHANT, công việc quan trọng đầu tiên nhằm đảm bảo tính pháp lý kinh doanh điện là tiến hành ký kết hợp đồng mua bán điện với từng hộ với số lượng trên 10 triệu hợp đồng. Để đảm bảo ký kết nhanh hợp đồng với các hộ sử dụng điện theo đúng quy định, Tập đoàn đã xem xét đơn giản hoá thủ tục, do vậy, các công ty điện lực đã tổ chức ký lại hợp đồng mua bán điện đạt tỷ lệ cao đến 95%.
Do các công tơ đo đếm điện trước đây không được kiểm định nên đo đếm không chính xác, nên các công ty điện lực phải tổ chức thay hơn 10 triệu công tơ cấp đạt tiêu chuẩn , bổ sung thay thế hệ thống tiếp địa, thay xà mục gãy, thay sứ cách điện vỡ, bổ sung cột đỡ dây để đảm bảo khoảng cách an toàn, phát quang hành lang lưới điện.
Dự kiến trong 6 tháng cuối năm 2010, các công ty điện lực sẽ tiếp tục bố trí vốn để thực hiện. Việc sửa chữa, cải tạo tối thiểu lưói điện hạ áp chỉ là biện pháp tình thế do chi phí thực hiện có hạn và hơn hết là do quy định về sử dụng chi phí sản xuất kinh doanh điện không cho phép nâng cấp tài sản lưới điện hiện hữu ( tăng tiết diện dây dẫn...).
Để giải quyết nâng cấp cơ bản lưới điện tiếp nhận cần phải có các nguồn vốn đầu tư khác. Hiện ngành Điện tận dụng tối đa nguồn vốn vay từ nhiều tổ chức như Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển châu Á, Ngân hàng Tái thiết Công hòa Liên bang Đức để cải tạo LĐHANT sau tiếp nhận.
Vậy công tác quản lý kinh doanh sau tiếp nhận như thế nào, thưa ông?
Tính đến hết tháng 6/2010, các công ty điện lực đã ký 5.178 hợp đồng dịch vụ bán lẻ điện năng (DVBLĐN), thuê 14.000 người (vốn là thợ điện của các HTX điện năng trước khi bàn giao) để thực hiện việc ghi chỉ số công tơ, thu tiền điện, kiểm tra lưới điện hàng ngày... bình quân 3,7 người/xã, thù lao trả cho mỗi người từ 600 nghìn đồng đến 1 triệu đồng/tháng. Tuỳ theo số lượng khách hàng và đặc điểm cụ thể của mỗi xã mà số lượng người được thuê làm dịch vụ khác nhau.
Hình thức DVBLĐN chỉ giải quyết được một số công việc, khối lượng lớn công việc chuyên môn khác thì ngành Điện vẫn phải bố trí nhân lực chính thức thực hiện.
Sau khi tiếp nhận trên diện rộng và bán điện 100% hộ nông thôn, địa bàn quản lý của các Điện lực quá rộng, Từ trụ sở của Chi nhánh điện tại huyện lỵ tới các xã có khi xa hàng chục km nên công tác sửa chữa điện và các công tác khác liên quan đến dịch vụ khách hàng không tránh khỏi khiếm khuyết.
Từ nhu cầu thực tế, các đơn vị hiện nay đề xuất mô hình tổ quản lý điện nông thôn, theo đó sẽ hành lập tổ/đội quản lý điện khu vực để quản lý vận hành và kinh doanh trên địa bàn từ 3-5 xã, kết hợp cả nhân viên biên chế của công ty điện lực và hợp đồng dịch vụ (người địa phương)
Công nhân Điện lực Hà Nội cải tạo lưới điện nông thôn - Ảnh Chinhphu.vn
Chỉ còn hơn 3 tháng nữa (tháng 12/2010) là hạn chót trong việc thực hiện Quyết định của Thủ tướng là EVN phải tiếp nhận 100% lưới điện hạ áp nông thôn nhưng vẫn còn 2.014 xã chưa bàn giao. Ttheo ông lý do chính là gì và giải pháp nào để đảm bảo thực hiện đúng kế hoạch?
Hiện nay, số xã chưa bàn giao LĐHANT còn 2.014 xã gồm 699 xã được UBND tỉnh xác định là đủ điều kiện bán lẻ điện năng theo quy định; 77 xã được UBND tỉnh xác định không đủ điều kiện bán lẻ điện năng nhưng chưa nhất trí bàn giao; 1.238 xã trong dự án REII (Dự án năng lượng nông thôn 2 do Ngân hàng Thế giới – WB cho vay vốn thực hiện). Theo Hiệp định tín dụng ký với WB thì dự án REII sẽ kết thúc cuối năm 2013. Đa số UBND các tỉnh đã có chủ trương bàn giao các xã thuộc REII cho ngành Điện quản lý sau khi hoàn thành công trình điện.
Tại 77 xã kể trên, các tổ chức quản lý điện nông thôn đều là các HTX điện năng hoặc HTX dịch vụ nông nghiệp tổng hợp. Nếu bàn giao LĐHANT cho điện lực thì họ lúng túng chưa biết chuyển sang kinh doanh gì để duy trì thu nhập cho các xã viên, hoặc nếu không có nguồn thu từ kinh doanh điện bù thêm cho các dịch vụ nông nghiệp khác thì không duy trì được HTX.
Nhiều HTX đặt điều kiện đối với ngành Điện phải tiếp nhận lao động. Phía chính quyền địa phương cũng lúng túng trong vấn đề này. Phía Điện lực không thể áp dụng biện pháp ngừng cấp điện cho các HTX vì sẽ ảnh hưởng lớn tới sinh hoạt của người dân. Vì vậy đối với các xã này không thể thúc ép được mà cần có thời gian vận động thuyết phục.
Đối với các xã tham gia dự án REII sắp kết thúc đầu tư xây dựng công trình, theo chỉ đạo của Bộ Công Thưong và phù hợp với thoả thuận trong Hiệp định ký kết với WB, UBND tỉnh sẽ thông báo cho tổ chức bán điện nông thôn về giá trị vốn đầu tư vào lưới điện sẽ chuyển giao cho các tổ chức này.
Các cơ quan chức năng của tỉnh hướng dẫn cách tính toán, phân tích phương án kinh doanh, đánh giá tính bền vững khi về lâu dài giá bán điện sẽ không còn bù lỗ. Qua đó giúp các tổ chức bán điện và xã viên đánh giá nhận thức rõ được rủi ro và khó khăn sau khi tiếp nhận vốn và tài sản lưới điện được đầu tư trong dự án để từ đó quyết định bàn giao hoặc không bàn giao lưới điện cho ngành Điện quản lý. Như vậy cần chờ việc thực hiện ở phía chính quyền địa phương nên chưa thể tiếp nhận ngay.
Với hơn 300 xã REII hiện nay mới bước vào giai đoạn thực hiện đầu tư và nhiều xã không đủ điều kiện bán lẻ nhưng nếu dừng đầu tư để bàn giao cho ngành Điện thì sẽ bị WB loại khỏi dự án, trong khi rất cần vốn để cải tạo nâng cấp lưới điện. EVN cũng đang cân nhắc làm việc với UBND các tỉnh để làm sao vẫn bàn giao lưới điện hiện tại cho ngành Điện mà việc đầu tư vẫn tiếp tục thực hiện được, tuy nhiên khó được sự chấp thuận của Bộ Công Thương và WB.
Một thời gian dài chúng ta quan tâm quá mức tới khía cạnh định chế: tách – nhập, giải thể, thành lập mới mà thiếu sự đồng bộ cần thiết với việc tái cấu trúc thể chế và thiết chế.
Sau 8 năm TPHCM thực hiện sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp (DN) nhà nước, hơn 300 DN đã và đang được chuyển đổi. Do thị trường bất động sản không ổn định nên việc cổ phần hóa, chuyển đổi mô hình DN gặp không ít khó khăn. Tuy nhiên, nhờ hướng đi đúng cộng với sự năng động, sáng tạo, TPHCM đã kịp thời kiến nghị Chính phủ gỡ khó, đẩy nhanh tiến trình đưa DN nhà nước thoát cơ chế “bao cấp”, đủ sức cạnh tranh theo cơ chế thị trường.
Sáng 9-9, tại Hà Nội, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội LĐ-TB&XH), Tổ chức lao động quốc tế (ILO) và Liên minh châu Âu đã tổ chức hội nghị đánh giá hiệu quả sàn giao dịch việc làm (GDVL), hoạt động của các trung tâm giới thiệu việc làm giai đoạn 2006-2010.
Chỉ số cạnh tranh của Việt Nam là 4,27 và vượt 16 bậc lên vị trí thứ 59. Trong khi đó Forbes hạ 5 bậc xếp hạng môi trường kinh doanh của Việt Nam.
Dự kiến, khoảng cuối năm 2011, khi hoàn thành việc nâng tĩnh không cầu Kinh Thanh Đa, lộ trình 1 (từ Linh Đông (quận Thủ Đức) về quận 1) của buýt đường sông sẽ được đưa vào hoạt động.
Việc phát động và thực hiện “tái cấu trúc doanh nghiệp” là một chủ trương lớn, rất quan trọng của Đảng và Nhà nước, có thể coi là một nội dung trọng tâm, xuyên suốt của kỳ kế hoạch 5 năm tới đây. Để góp phần nhận thức về vấn đề này, Cổng TTĐT Chính phủ giới thiệu bài viết của PGS, TS Phan Đăng Tuất, Viện trưởng Viện nghiên cứu chiến lược, chính sách công nghiệp – Bộ Công Thương.
Trong Dự thảo Chương trình phát triển công nghiệp công nghệ thông tin đến 2015, Bộ Thông tin và Truyền thông đặt mục tiêu đến 2015 sẽ đào tạo lại 50 nghìn kỹ sư trình độ cao, thông thạo chuyên môn và ngoại ngữ.
Cả nước đã có trên 1,537 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (TECHCĐB), chiếm khoảng 1,79% dân số và khoảng 6% dân số trong độ tuổi trẻ em. Trước thực tế này, Bộ Lao động–Thương binh và Xã hội chủ trương xây dựng và nhân rộng các mô hình trợ giúp TECHCĐB dựa vào cộng đồng.
Còn khá nhiều dư địa cho nỗ lực tạo ra môi trường kinh doanh thông thoáng, tiết kiệm hơn, một khi tiếp tục nâng cao tính minh bạch của hệ thống chính sách điều tiết hoạt động kinh doanh, nhất là cơ quan quản lý "rộng cửa" hơn cho cộng đồng DN tiếp cận thông tin của nhà quản lý.
“65 năm qua, từ chỗ bị bao vây cô lập, quan hệ đối ngoại của Việt Nam được mở rộng chưa từng có, ngày càng đi vào chiều sâu, góp phần quan trọng vào sự nghiệp cách mạng và thúc đẩy phát triển thương mại, đầu tư”.
Thủ tướng mong muốn, các địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long liên kết với nhau chặt chẽ hơn, huy động cao nhất các nguồn lực bên trong và bên ngoài, phát triển một cách bền vững.
Đồ án quy hoạch xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 chưa đạt yêu cầu, Hội Kiến trúc sư Việt Nam tỏ rõ quan điểm tại văn bản góp ý chính thức được gửi tới Văn phòng Trung ương Đảng ngày 26/8.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.