Trong thời gian vừa qua, việc tự phong thành các Tập đoàn kinh tế tư nhân, việc nâng cấp các tổng công ty Nhà nước với mô hình "Công ty mẹ - Công ty con" thành các Tập đoàn kinh tế đã và đang diễn ra ở nước ta. Chúng ta đã tự hào và đặt đầy kỳ vọng vào mô hình “cũ người mới ta” này. Song một loạt sự đổ vỡ, hoạt động kém hiểu quả của các tập đoàn kinh tế ở nước ta của cả khối nhà nước và tư nhân trong thời gian qua cho thấy còn qua nhiều điều đáng đáng để bàn.
Nghị định số 139/2007/NĐ-CP ngày 5/9/2007 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp đã quy định rõ: “Tập đoàn kinh tế không có tư cách pháp nhân, không phải đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp”. Các DN tự nguyện gia nhập tập đoàn đều có tư cách pháp nhân đầy đủ và hoạt động độc lập.
Theo định nghĩa trên thì không có một quyết định hành chính của bất kỳ cấp quản lý nhà nước nào về việc thành lập Tập đoàn kinh tế và không có một mệnh lệnh hành chính nào có hiệu lực trong tập đoàn. Các tập đoàn trên thế giới, không tồn tại chức danh để điều hành kinh doanh như Tổng Giám đốc tập đoàn mà chỉ có Chủ tịch tập đoàn do Hội đồng chủ tịch của các công ty con bầu ra. Vậy thì nên gọi là Tập đoàn kinh tế hay Tập đoàn doanh nghiệp?
Vừa qua một số tập đoàn được thành lập trên cái nền là các Tổng công ty (Tcty) nhà nước (12 Tập đoàn) lại được thành lập theo một quyết định hành chính, chỉ rõ tập đoàn có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng (Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt nam, Tập đoàn kinh tế VinaShin, tập đoàn bưu chính viễn thông…). Đồng thời, lại có quyết định bổ nhiệm Chủ tịch, Tổng giám đốc tập đoàn. Việc hình thành các tập đoàn trong DNNN ở nước ta hiện nay mới chỉ là việc đổi tên từ TCty thành tập đoàn còn về chất thì chỉ là “bình mới rượu cũ”. Việc này không phù hợp với luật DN.
Điểm căn bản đưa đến việc thành lập Tập đoàn là nó cho phép một DN da dang hoá ngành nghề, các hoạt động sản xuất kinh doanh, mở rộng sang các lĩnh vực mới có khả năng phát triển mạnh hơn trong tương lai, thay vì tập trung váo các lĩnh vực đang hoạt động mặc dù có thể đang tạo ra nhiều lợi nhuận, nhưng lại không thể phát triển mạnh thêm vì thị trường bão hòa. Việc tạo ra một cơ cấu sản xuất kinh doanh mới sẽ khó khăn và mất nhiều thời gian nên việc tập hợp các doanh nghiệp có cơ cấu kinh doanh nằm trong mục tiêu phát triển sẽ nhanh hơn, thuận lợi hơn, tăng tính cạnh tranh hơn…
Việc “nâng cấp” các Tcty Nhà nước thành các “Tập đoàn” đã tạo điều kiện cho các Tập đoàn đa dạng hóa ngành nghề sản xuất kinh doanh để cho phù hợp với tên mới và đã “đẻ” ra một loạt các Công ty con vẫn “bú” sữa Mẹ là nguồn vốn Nhà nước là chủ yếu nên vẫn hoạt động phụ thuộc do vậy vẫn là mô hình "Công ty mẹ - Công ty con" chứ không phải là Tập đoàn kinh tế. Công ty mẹ trong tập đoàn kinh tế nhà nước không những giữ vững yếu tố nhà nước, mà còn được đẩy lên giữ vai trò lãnh đạo, chi phối hoặc ảnh hưởng đối với các doanh nghiệp thành viên khác trong tập đoàn kinh tế và với các liên kết trong tập đoàn kinh tế. Quan hệ giữa công ty mẹ với các thành viên của Tập đoàn kinh tế nhà nước thật sự không rõ ràng vừa “đối vốn” vừa “đối nhân”..
Trong khi đó một số Tập đoàn tư nhân đã hình thành và hoạt động có đôi chút hiệu quả như: Tập đoàn Việt Á, Hòa Phát, Nam Cường, v.v… Các Tập đoàn này không có quyết định thành lập của cấp chính quyền nào và cũng không có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Nhưng thực chất các tập đoàn này cũng không phải do tập hợp các DN gia nhập thành mà cũng do tự “sinh đẻ” và từ đó tự nâng cấp hoặc tự phong mà thôi. Họ cũng chẳng cần điều kiện gì để xác nhận và các ông chủ đích thực vẫn vậy. Vẫn là “Bình mới rượu cũ”!
Tập đoàn thường mang cùng một thương hiệu để tạo tính cạnh tranh và ảnh hưởng tiếp thị trên thị trường. Các tập đoàn của Việt nam được thành lập từ các Tcty, các công ty cổ phần nên nghiễm nhiên được mang “họ” và gắn “nhãn”. Tuy nhiên mặt trái của tập đoàn là sẽ bành trướng rộng ra và từ đó đầu tư dàn trải vào nhiều ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh khác nhau. Đến một giai đoạn nào đó quản lý ở cấp cao của tập đoàn mất dần khả năng nắm bắt, quản lý dẫn đến tập đoàn dễ mất phương hướng, không còn mục tiêu rõ ràng và mất dần khả năng cạnh tranh. Và khi một phần sụp đổ, nó có thể kéo theo sự sụp đổ của cả tập đoàn.
Những vấn đề trên không có gì xa lại đối với kinh tế Việt Nam và trở nên rất nguy hiểm khi luật pháp của ta hiện nay gần như chưa có gì để kiểm soát các hoạt động của tập đoàn. Ở đây cần nói rõ thêm là hầu hết các tập đoàn lớn ở ta đều là Tập đoàn nhà nước, thường là độc quyền, được ưu đãi và có khả năng lũng đoạn thị trường rất lớn vì các tập đoàn này nắm hết mọi thứ: Quy mô, vốn, chủ trương, chiến lược.
Mục đích của nó, theo sự mong muốn của nhà nươc, là những đòn bẩy đẩy mạnh phát triển nền kinh tế, nhưng bản thân người quản lý đôi khi lực bất tòng tâm!?
Thực tế hiện nay là dù có luật, các cơ quan hữu quan gần như lơ là không thực hiện sự kiểm soát theo luật hoặc không đủ khả năng chuyên môn để kiểm soát hầu hết mọi hoạt động của Tập đoàn, cho nên cần siết chặt quản lý khả năng đầu tư của các Tập đoàn nhất là các Tập đoàn phi tài chính vào hoạt động tài chính và chỉ mở rộng khi hội tụ đầy đủ các điều kiện cho phép để tránh xảy ra các cuộc khủng hoảng tài chính trong tương lai.
Cần phải tạo ra một sân chơi công bằng cho DNNN và DNTN. Thực tế cho thấy càng đầu tư mạnh vào các Tập đoàn nhà nước càng tạo cơ hội làm giàu cho một vài nhóm lợi ích hoặc cá nhân. Bên cạnh đó, chưa phân định rõ yêu cầu và cơ chế quản lý giữa hoạt động đầu tư vì lợi nhuận và phi lợi nhuận. Trong các Tập đoàn đang có sự nhập nhằng giữa nguồn vốn hoạt động vì lợi nhuận với nguồn vốn hoạt động phi lợi nhuận (có thể nhận thấy rõ nhất ở Tập đoàn Buu chính viễn thông). Trách nhiệm xã hội của các Tập đoàn KTNN đối với ổn định kinh tế vĩ mô đi cùng với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, từ đó dẫn đến đầu tư bị dàn trải, kém hiệu quả và dễ bị lạm dụng,
Cần có qui định rạch ròi về vốn và nợ của DN nhà nước. Nợ của DN nhà nước phải vừa được ghi là nợ của doanh nghiệp, vừa được ghi là nợ của Nhà nước (tức là DN nợ ngân sách, ngân sách nợ người cho vay). Nhà nước phải có trách nhiệm trả nợ khi DN phá sản.
Cần giải quyết đúng đắn vấn đề cấp đất cho doanh nghiệp và phải ghi đúng theo giá thị trường tài sản này. Đất phải được coi là nợ của DN đối với Nhà nước. Giá trị số nợ này sẽ được điều chỉnh theo giá thị trường, DN phải trả lãi cho Nhà nước theo lãi suất nhất định; hoặc là Nhà nước cho DN thuê đất và tiền thuê phải được điều chỉnh tùy theo giá thị trường. Đất không thể coi là sở hữu của DN, kể cả quyền sử dụng đất.
Và cần nhiều sự điều chỉnh, giải quyết khác…!
Xu hướng của các DN là tiến liên mô hình kinh tế tập đoàn; Tuy nhiên trong thời gian qua, từ một loạt các đổ vỡ và hoạt động kém hiệu quả của các tập đoàn kinh tế khiến chúng ta phải xem xét lại một cách cẩn thân, tỷ mỷ, cần có những nghiên cứu thật thấu đáo về mô hình cùng với sự lựa chọn những DN thật sự có khả năng liên kết để cho các Tập đoàn ra đời thể hiện được sức mạnh bản chất của nó. KTTD// Tầm Nhìn
Cộng đồng doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam đã tỏ ra bớt bi quan hơn về triển vọng của nền kinh tế Việt Nam, theo kết quả của cuộc khảo sát lần thứ sáu về chỉ số kinh doanh của các doanh nghiệp châu Âu do Phòng Thương mại Châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) thực hiện vào tháng 1/2012.
Cộng đồng doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam đã tỏ ra bớt bi quan hơn về triển vọng của nền kinh tế Việt Nam, theo kết quả của cuộc khảo sát lần thứ sáu về chỉ số kinh doanh của các doanh nghiệp châu Âu do Phòng Thương mại Châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) thực hiện vào tháng 1/2012.
Nhiều chuyên gia cho rằng cần phải hy sinh tăng trưởng để chống lạm phát nhưng dường như họ đã quên rằng tăng trưởng cũng là một phần quan trọng của ổn định vĩ mô, miễn là tăng trưởng đúng với khả năng của mình.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa như Việt Nam, tư duy kinh tế chỉ huy còn phổ biến thì không nên đặt vấn đề sử dụng tài sản quốc gia (dù là tiền thuế của dân hay đất đai của công) để khuyến khích phát triển công nghiệp một cách tham vọng, vì điều đó sẽ chỉ dẫn tới sự lãng phí.
Khối Nghiên cứu Kinh tế của Ngân hàng HSBC (HSBC Global Research) vừa công bố bản báo cáo về Kinh tế Vĩ mô Châu Á quý I/2012 (Macro Asian Economics), theo đó, mặc cho tình hình tăng trưởng kinh tế toàn cầu trì trệ và những điều kiện khó khăn trong nước, đà tăng trưởng của Việt Nam vẫn đạt con số khá ấn tượng.
Trong niềm kỳ vọng về sự phát triển của đất nước, chúng ta đã có chiến lược phát triển kinh tế biển nhằm hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam thành cường quốc biển. Đó là một kỳ vọng tốt đẹp. Tuy nhiên, với tinh thần “ôn cố tri tân”, bài viết này sẽ sơ bộ tìm hiểu tại sao Việt Nam, dù nằm ngay sát biển và gần với một trong những tuyến đường biển nhộn nhịp nhất trên thế giới, lại đã không thể trở thành cường quốc biển.
Tái cơ cấu là một nhiệm vụ trọng tâm giúp chuyển đổi nền kinh tế Việt Nam sang xu hướng phát triển theo chiều sâu và bền vững, thân thiện với môi trường. Đối với mục tiêu định hướng phát triển bền vững vùng Tây Nguyên, tái cơ cấu kinh tế đóng vai trò quan trọng sống còn.
Lạm phát trong tháng giáp Tết có thể đứng ở mức thấp kỷ lục trong 10 năm qua. Đây liệu có còn cơ sở để NHNN giảm lãi suất, mà theo đó các doanh nghiệp trong nước sẽ bớt phần khó khăn?
Thời gian lặng lẽ trôi theo dòng lịch sử nhưng nặng trĩu những đo đếm trong ta khi ngẫm về sự phát triển của đất nước...Dẫu cho "mọi so sánh đều khập khiễng".
Trong báo cáo mang tên “The world in 2050” (Thế giới năm 2050) vừa công bố, chuyên gia kinh tế Karen Ward của ngân hàng Anh quốc HSBC cho rằng, Việt Nam sẽ nằm trong nhóm 50 nền kinh tế hàng đầu thế giới.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.