Không dễ để nông dân tiếp cận vốn vay cho sản xuất - Ảnh: Reuters.
Đã có khá nhiều nghị quyết của Đảng và Nhà nước về tiếp vốn cho “tam nông” (nông nghiệp - nông dân - nông thôn), nhưng đến nay, tín dụng ở đây phần lớn vẫn nhuốm màu bao cấp.
Và làm thế nào để vốn “tự chảy” về khu vực này vẫn là trăn trở chưa có hồi kết.
Chính sách đã hết mình!
Ngày 5/8/2008, hội nghị lần thứ 7, Ban chấp hành Trung ương khóa X ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW về phát triển “tam nông”, với những nhiệm vụ và giải pháp rất căn bản.
Tiếp đó, ngày 28/10/2008, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP về chương trình hành động thực hiện nghị quyết nói trên. Trong đó, Chính phủ giao cho Ngân hàng Nhà nước hoàn thành dự thảo nghị định về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn.
Ngân hàng Nhà nước đã trình và chờ Chính phủ thông qua nghị định này. So sánh dự thảo nghị định này với Quyết định số 67/1999/QĐ-TTg về cho vay khu vực nông thôn ban hành 10 năm trước, có khá nhiều điểm tiến bộ.
Thứ nhất, nếu như Quyết định 67 chỉ cho phép tổ chức tín dụng cho hộ nông dân vay không có bảo đảm bằng tài sản tối đa đến 10 triệu đồng thì dự thảo nghị định cho phép mức vay đối với đối tượng trên lên tới 50 triệu đồng.
“Điều này không chỉ phù hợp với mặt bằng giá cả hiện nay mà còn giúp nông dân tiếp cận nhiều hơn với nguồn vốn tín dụng ngân hàng để phục vụ sản xuất kinh doanh”, Thống đốc Nguyễn Văn Giàu cho biết.
Tiếp đó, dự thảo cũng... “mở” hơn đối với cho vay không có tài sản bảo đảm đối với hợp tác xã, chủ trang trại: thay vì chỉ từ 30 đến 50 triệu đồng, cá biệt có thể đến 100 triệu đồng và 500 triệu đồng (đối với hợp tác xã có hợp đồng xuất khẩu) thì thời gian tới, hộ sản xuất ngành nghề có thể vay tối đa không có tài sản bảo đảm lên tới 200 triệu đồng và các hợp tác xã, chủ trang trại có thể vay tối đa không có tài sản bảo đảm đến 500 triệu đồng.
Cùng đó, đối tượng điều chỉnh của dự thảo cũng nhiều hơn so với Quyết định 67 và nhờ vậy, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh khu vực nông thôn điều được thụ hưởng chính sách này.
Trong lúc thị trường tín dụng nông thôn đang chờ Nghị định trên sắp ban hành thì lâu nay, Ngân hàng Nhà nước đã có những công cụ hỗ trợ tối đa các tổ chức tín dụng cho vay vào khu vực này. Ông Nguyễn Danh Trọng, Phó vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước) cho biết, ngoài những ngân hàng được Nhà nước giao nhiệm vụ cho vay khu vực nông thôn như Agribank, Ngân hàng Chính sách xã hội thì Ngân hàng Nhà nước rất khuyến khích và “ưu đãi” các ngân hàng thương mại cổ phần tham gia cho vay khu vực này.
Chẳng hạn, Ngân hàng Nhà nước quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc thấp hơn, ưu tiên lãi suất tái cấp vốn đối với ngân hàng thương mại cho vay khu vực “tam nông” thấp hơn so với cho vay khu vực khác nhằm thông qua đó để tổ chức tín dụng dư dả nguồn vốn phục vụ khu vực này...
Sao ngân hàng vẫn “chê”?
Đã đang và sẽ tiếp tục hỗ trợ cho tổ chức tín dụng cho vay “tam nông” bằng chính sách hoặc các giải pháp kỹ thuật đặc thù, đáng lẽ, tín dụng khu vực này phải tăng trưởng xứng tầm.
Thế nhưng, nhìn vào các con số, không khỏi không suy ngẫm.
Theo ông Nguyễn Danh Trọng, tính đến 31/12/2009, dư nợ cho vay nông nghiệp, nông thôn cả nước chỉ đạt 231 nghìn tỷ đồng, chiếm 17 - 18% tổng dư nợ cho vay cả nước; trong khi đó, cũng tính đến thời điểm này, tổng số vốn huy động toàn bộ hệ thống tổ chức tín dụng là 1.777 nghìn tỷ đồng.
Tại một vùng đất được mệnh danh là “bát cơm châu Á” hay “vựa lúa” là đồng bằng sông Cửu Long, nơi đóng góp tới 20 mặt hàng xuất khẩu cho cả nước, con số thống kê tín dụng khu vực này lại quá khiêm tốn! Cụ thể, hết năm 2009, huy động vốn tại chỗ của 13 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long chỉ đạt 115 nghìn tỷ đồng so với con số tổng vốn huy động toàn hệ thống ngân hàng là 1.777 nghìn tỷ đồng, tương đương 6%; hay, dư nợ cho vay ở 13 tỉnh này khoảng 174 nghìn tỷ đồng, tương đương 10% tổng dư nợ toàn hệ thống.
“Khu vực đồng bằng sông Cửu Long đang rất đói vốn”, ông Trọng “chốt” lại.
Thực ra, trong phạm trù “tín dụng” nói chung, còn có khái niệm “tín dụng thưong mại”, có nghĩa: các doanh nghiệp vay mượn, ứng vốn cho nhau mà không thông qua ngân hàng. Chúng tôi có đem băn khoăn này hỏi ông Nguyễn Thành Long, Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Mía đường Cần Thơ, một doanh nghiệp thu mua chế biến sản phẩm của nông dân đồng bằng sông Cửu Long, với ý nghĩ có thể áp dụng cách làm này giữa doanh nghiệp thu mua chế biến lương thực với nông dân nhưng ông Long ngán ngẩm: “Bất cứ ai cần vốn thì nên đến ngân hàng, đó là sự phân chia tự nhiên. Tôi có biết một số doanh nghiệp kinh doanh phân bón áp dụng “đổi phân bón lấy thóc” nhưng đó là cách làm đầy rủi ro”.
Bản chất hoạt động của doanh nghiệp là “săn tìm lợi nhuận”, sở dĩ lâu nay dòng vốn tín dụng cho nông thôn vẫn còn “eo hẹp” là do hiệu quả kinh tế không cao. “Với hàng loạt món vay nhỏ lẻ, chi phí vốn cao trong khi rủi ro thiên tai, dịch bệnh rình rập, chúng tôi đâu thể muốn cho vay nhiều vào “tam nông” là được? Hơn nữa, một khi nông thôn chưa trở thành thị trường hàng hóa sôi động thì vốn chưa thể chảy về một cách tự nhiên!”, tổng giám đốc một ngân hàng cổ phần nói.
Như vậy, phải chăng, nếu thực hiện theo nghị định tín dụng cho nông nghiệp, nông thôn sắp ban hành thì cũng mới chỉ giải quyết một phần nhỏ trong câu chuyện rất dài tín dụng cho “tam nông” mà thôi?
Đánh giá cao khả năng tăng trưởng trong ngắn hạn của Việt Nam nhưng không ít chuyên gia trong nước và quốc tế cho rằng lạm phát mới là bài toán nan giải nhất đối với nền kinh tế trong năm 2010.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 2 tăng cao ở các thành phố lớn, giá các mặt hàng đầu vào thiết yếu của sản xuất và đời sống như xăng dầu, điện, than... cũng chịu áp lực tăng giá.
Trên thực tế, có sự tăng giá theo tâm lý, một yếu tố rất khó dự đoán và tính toán, không như kiểu giá điện tăng trung bình 6,8% thì giá các mặt hàng công nghiệp tăng trung bình không quá 1% mà thường “trái khoáy, vô lý” như một bát phở tăng giá từ 15.000 đồng lên 20-25.000 đồng/bát dù tỷ trọng điện trong chi phí làm ra bát phở rất nhỏ.
Tạo lập sự bình đẳng, tự do cạnh tranh giữa các Tập đoàn và các doanh nghiệp thuộc các thành phần khác sẽ là điểm đáng quan tâm nhất, nếu không các Tập đoàn sẽ tập trung vào mục tiêu lợi ích nhóm và độc quyền tập đoàn, gây tổn hại cho nền kinh tế và xã hội.
Năm 2010, nền kinh tế Việt Nam sẽ ổn định hơn dù còn nhiều khó khăn và thách thức. Xuất khẩu sẽ tăng trưởng trở lại và trở thành một trong những động lực chính giúp nền kinh tế tăng trưởng.
Đây là mức tăng trưởng kỳ vọng được ông Anoop Singh- Giám đốc Vụ Khu vực châu Á và Thái Bình Dương của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đưa ra ngay sau Hội nghị chuyên đề về "Tăng trưởng và giảm nghèo hậu khủng hoảng tại các nước đang phát triển" tổ chức chiều ngày 23/3.
Kinh tế Việt Nam hiện xuất hiện khá nhiều vấn đề cần lời giải, như: Nên áp dụng hay không chính sách nới lỏng đối với tài chính, tiền tệ; bỏ trần lãi suất cơ bản; cho vay theo lãi suất thỏa thuận ngắn hạn, nới lỏng cho vay đối với bất động sản và chứng khoán…
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Việc giá xăng bất ngờ tăng thêm 590 đồng/lít từ ngày 21-2 đã gây ra những luồng ý kiến khác nhau. Dư luận đặt câu hỏi liệu giá xăng, dầu có được điều chỉnh một cách khách quan hay đã tăng quá mức so với giá thế giới?
Sáng 19/3, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã có phiên chất vấn Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh về nhiều chính sách tài chính quan trọng và những tác động trên thực tế.
Cùng với đất nước bước vào xuân mới, Xuân Canh Dần 2010, các cơ quan của Đảng và Nhà nước ta đang khẩn trương, tích cực chuẩn bị Dự thảo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2011 - 2020 trình Đại hội XI của Đảng - Đại hội đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới.
Tin vui khi bia đá các khoa thi tiến sĩ triều Lê - Mạc (1442-1779) tại Văn Miếu- Quốc Tử Giám được UNESCO vinh danh Di sản Tư liệu trong Chương trình Ký ức Thế giới. Mối lo cũng nảy sinh thêm bởi từ đây, chắc chắn sẽ có thêm đông người đến chiêm bái bia đá.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.