Việc phát động và thực hiện “tái cấu trúc doanh nghiệp” là một chủ trương lớn, rất quan trọng của Đảng và Nhà nước, có thể coi là một nội dung trọng tâm, xuyên suốt của kỳ kế hoạch 5 năm tới đây. Để góp phần nhận thức về vấn đề này, Cổng TTĐT Chính phủ giới thiệu bài viết của PGS, TS Phan Đăng Tuất, Viện trưởng Viện nghiên cứu chiến lược, chính sách công nghiệp – Bộ Công Thương.
Tái cấu trúc doanh nghiệp để thích ứng với sự phát triển kinh tế toàn cầu - Ảnh minh họa
Nhận thức về tái cấu trúc doanh nghiệp
Có thể nói, khác với “đổi mới quản lý doanh nghiệp”, tái cấu trúc doanh nghiệp (TCTDN) là sự thay đổi có phạm vi và tính chất sâu rộng hơn. Nó không chỉ làm mới cái đã có mà còn là cả sự thay đổi “luật chơi”, “cách chơi” và cả các thành phần của cuộc chơi. Điều khác biệt quan trọng của TCTDN với “đổi mới” còn là ở chỗ nếu “đổi mới” mang nhiều ý chí chủ quan thì TCTDN lại xuất phát từ yêu cầu khách quan của quá trình hội nhập quốc tế để có thể thích ứng được cả trong các điều kiện bất định của sự phát triển kinh tế toàn cầu.
Phạm vi của TCTDN là rất rộng, diễn ra cả trên 3 giác độ là Thể chế, Thiết chế và Định chế.
Về Thể chế, có thể hiểu là việc TCTDN nhằm định ra một trật tự mới với việc định rõ chủ thể của quá trình quản lý, quyền lực thực sự của chủ thể và các chế tài mà chủ thể được và phải sử dụng để buộc các đối tượng bị quản lý tuân thủ. TCTDN về thể chế được thể hiện thông qua các luật, văn bản dưới luật để thực hiện quyền lực của Nhà nước đối với các doanh nghiệp (DN).
Về Thiết chế, được hiểu trong phạm vi này là các quy định nội bộ để thực hiện sự vận doanh linh hoạt của DN. Nó quy định các mối quan hệ “dọc ngang”, “trên dưới” của các bộ phận cấu thành DN. Thể hiện thông qua hệ thống Điều lệ, Quy chế, Quy định, Nội quy cũng như hệ thống quy trình, quy phạm kỹ thuật chuyên ngành khác … trong hệ thống DN. Lẽ dĩ nhiên, chúng phải tuân thủ và triển khai theo các văn bản pháp luật của Thể chế.
Một nội dung rất quan trọng của Thiết chế là việc hình thành hệ thống “kiểm soát” chặt chẽ, khoa học để hướng tới mục tiêu tối thượng của Thiết chế là sự minh bạch.
Về Định chế, Định chế ở đây được hiểu là các thành phần, bộ phận trong DN (hay các lĩnh vực kinh doanh), như là các Tổng công ty, Công ty… trong Tập đoàn hay các công ty, DN trong một Tổng Công ty. Thậm chí là các bộ phận trong một công ty con nào đó. Về khía cạnh định chế, việc TCTDN được thể hiện qua việc tách, nhập, thành lập mới, xóa bỏ các bộ phận, các công ty con, các lĩnh vực kinh doanh trong một định chế lớn hơn… việc thay đổi các định chế nhằm hướng tới sự phù hợp và do đó hiệu quả cao hơn.
Có thể hiểu tổng quát TCTDN là tổng hợp toàn bộ sự thay đổi cả về thể chế, thiết chế và định chế để quản lý DN theo một trật tự pháp luật chặt chẽ hơn, minh bạch hơn và hiệu quả hơn.
Tái cấu trúc doanh nghiệp Nhà nước
Chủ trương xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta trong suốt thời gian qua là khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước để bảo đảm sự khẳng định phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong đó khu vực DNNN vẫn đóng vai trò quan trọng trước hết là ở các khu vực mà tư nhân không được làm, không làm được và không muốn làm.
Dự thảo Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng 11 chỉ rõ: “Đẩy mạnh đổi mới, sắp xếp và nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Nhà nướcđể giữ vững và phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Từ chủ trương lớn đó, việc thực hiện TCTDN Nhà nước trở thành một vấn đề trọng tâm của quá trình tái cấu trúc kinh tế Việt Nam trong những năm sắp tới.
Có thể khẳng định những thành tựu đã đạt được trong nước gần 25 năm qua (tính từ Nghị quyết Trung ương 3 khóa 6 năm 1986 về đổi mới cơ chế quản lý kinh tế) của quá trình phát triển kinh tế nói chung, phát triển của các DNNN nói riêng, thể hiện trên một số nét cơ bản.
Đó là đã hình thành được các Tập đoàn kinh tế, các Tổng công ty mạnh, nắm giữ được tiềm lực kinh tế ở nhiều lĩnh vực quan trọng, góp phần tích cực vào ổn định kinh tế vĩ mô. Nhiều DNNN trở thành tổ chức dẫn dắt phát triển đối với nhiều loại hình DN ngoài Nhà nước, tạo thành các DN sở hữu hỗn hợp, tăng tính linh hoạt và hiệu quả kinh doanh.
Nhiều DNNN có thương hiệu uy tín, là đối tác kinh tế lớn trong các mối quan hệ kinh tế quốc tế quan trọng trong quá trình hội nhập.
Bên cạnh những giá trị mà DNNN đã giữ đúng vai trò như góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, khai phá các ngành nghề lĩnh vực kinh tế mà khu vực tư nhân chưa làm được… thì hiệu quả kinh doanh của các DNNN vẫn là một vấn đề lớn cần phân tích. Theo đó đánh giá lại một cách khách quan quá trình TCTDN Nhà nước trong suốt thời gian qua là rất cần thiết.
Trước hết, có thể nói, quá trình TCTDN Nhà nước trong suốt thời gian qua còn quá thiên lệch về khía cạnh “định chế”. Chúng ta thực hiện khá nhanh chóng việc tách – nhập, giải thể, thành lập mới các Tổng công ty, các Tập đoàn nhưng có 2 xu hướng xảy ra.
Một là, các DN đó được thành lập phần nhiều bởi các quyết định hành chính, thiếu các kiểm chứng khoa học để tạo ra một định chế phù hợp và hiệu quả.
Hai là, các Thể chế và Thiết chế không theo kịp với sự thay đổi nhanh chóng của các Định chế. Cụ thể là các văn bản luật và dưới luật để điều chỉnh các DNNN vẫn còn thiếu, còn nhiều bất cập (nhất là các thông tư hướng dẫn của các bộ ngành liên quan đến DNNN). Đồng thời các chế tài là chưa rõ ràng, nhất là trách nhiệm của đội ngũ lãnh đạo quản lý DNNN (hầu như suốt thời gian qua rất ít trường bị cách chức vì hiệu quả thấp… trước khi cơ quan tố tụng vào cuộc).
Về Thiết chế, từ việc thiếu sức mạnh của thể chế nên dẫn đến các thiết chế quản lý nội bộ DNNN còn rất nhiều bất cập. Các quy định nội bộ như điều lệ, quy chế, nội quy, quy định và quy trình quy phạm kỹ thuật… để vận doanh DNNN là không đầy đủ và thiếu minh bạch. Thậm chí đến hiện nay, nhiều DN lớn vẫn chưa có được báo cáo tài chính hợp nhất, vốn là cơ sở để đánh giá một cách toàn diện và minh bạch hoạt động sản xuất kinh doanh của toàn DN.
Về nguyên nhân cốt lõi, bài viết sẽ không tiếp cận nguyên nhân theo cách tìm nguyên nhân chủ quan, khách quan mà đi thẳng đến một vấn đề rất cốt lõi của quản lý Nhà nước đối với các DN. Đó là chúng ta thiếu một tuyên bố về chuẩn mực quản trị các DN của Nhà nước (gọi tắt là hệ thống chuẩn trị DN – CTDN).
Ở đây có 2 vấn đề lớn đặt ra. Thứ nhất, chúng ta nên và cần chọn hệ thống chuẩn trị nào để xây dựng hệ thống chuẩn trị DN cho Việt Nam? Thứ hai, việc triển khai xây dựng và ban bố hệ thống chuẩn trị, kiểm soát của Nhà nước đối với việc thực hiện chuẩn trị của các DN sẽ như thế nào. Nếu 2 vấn đề cốt lõi này chưa được thực hiện thì việc ban hành các văn bản mang tính thể chế và các quy định mang tính thiết chế nội bộ sẽ khó nhất quán và minh bạch.
Dự kiến, khoảng cuối năm 2011, khi hoàn thành việc nâng tĩnh không cầu Kinh Thanh Đa, lộ trình 1 (từ Linh Đông (quận Thủ Đức) về quận 1) của buýt đường sông sẽ được đưa vào hoạt động.
Chuyển giao lưới điện hạ áp nông thôn cho ngành Điện thống nhất quản lý sẽ giúp giải quyết dứt điểm các tồn tại kéo dài như quản lý lưới điện manh mún, thiếu tính chuyên nghiệp, năng lực tài chính và trình độ kỹ thuật hạn chế...
Một thời gian dài chúng ta quan tâm quá mức tới khía cạnh định chế: tách – nhập, giải thể, thành lập mới mà thiếu sự đồng bộ cần thiết với việc tái cấu trúc thể chế và thiết chế.
Sau 8 năm TPHCM thực hiện sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp (DN) nhà nước, hơn 300 DN đã và đang được chuyển đổi. Do thị trường bất động sản không ổn định nên việc cổ phần hóa, chuyển đổi mô hình DN gặp không ít khó khăn. Tuy nhiên, nhờ hướng đi đúng cộng với sự năng động, sáng tạo, TPHCM đã kịp thời kiến nghị Chính phủ gỡ khó, đẩy nhanh tiến trình đưa DN nhà nước thoát cơ chế “bao cấp”, đủ sức cạnh tranh theo cơ chế thị trường.
Trong Dự thảo Chương trình phát triển công nghiệp công nghệ thông tin đến 2015, Bộ Thông tin và Truyền thông đặt mục tiêu đến 2015 sẽ đào tạo lại 50 nghìn kỹ sư trình độ cao, thông thạo chuyên môn và ngoại ngữ.
Cả nước đã có trên 1,537 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (TECHCĐB), chiếm khoảng 1,79% dân số và khoảng 6% dân số trong độ tuổi trẻ em. Trước thực tế này, Bộ Lao động–Thương binh và Xã hội chủ trương xây dựng và nhân rộng các mô hình trợ giúp TECHCĐB dựa vào cộng đồng.
Còn khá nhiều dư địa cho nỗ lực tạo ra môi trường kinh doanh thông thoáng, tiết kiệm hơn, một khi tiếp tục nâng cao tính minh bạch của hệ thống chính sách điều tiết hoạt động kinh doanh, nhất là cơ quan quản lý "rộng cửa" hơn cho cộng đồng DN tiếp cận thông tin của nhà quản lý.
“65 năm qua, từ chỗ bị bao vây cô lập, quan hệ đối ngoại của Việt Nam được mở rộng chưa từng có, ngày càng đi vào chiều sâu, góp phần quan trọng vào sự nghiệp cách mạng và thúc đẩy phát triển thương mại, đầu tư”.
Thủ tướng mong muốn, các địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long liên kết với nhau chặt chẽ hơn, huy động cao nhất các nguồn lực bên trong và bên ngoài, phát triển một cách bền vững.
Đồ án quy hoạch xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 chưa đạt yêu cầu, Hội Kiến trúc sư Việt Nam tỏ rõ quan điểm tại văn bản góp ý chính thức được gửi tới Văn phòng Trung ương Đảng ngày 26/8.
Phát triển bền vững là yêu cầu cấp thiết đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường ở nước ta đi vào CNH và hội nhập toàn cầu. Vượt qua mức thu nhập trung bình để vươn tới nước phát triển đòi hỏi chúng ta phải có chiến lược phát triển dựa vào nguồn lực con người. Ðây là nhân tố quyết định nhất đối với quá trình CNH, HÐH đất nước và bảo đảm cho sự phát triển nhanh, bền vững.
Hàng chục dự án thủy điện lớn, vừa và nhỏ đang được triển khai tại miền Trung đã tạo nên nguồn điện rất lớn, hỗ trợ phát triển kinh tế đất nước và trực tiếp mang lại cơ hội phát triển cho khu vực này.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.