Những năm qua, hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT) tạo ra điều kiện thuận lợi để mở rộng thị trường cho xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ, thu hút đầu tư nước ngoài và đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.
HNKTQT đã và đang tác động mạnh mẽ và sâu rộng đối với kinh tế đất nước nói chung trong đó có kinh tế và đời sống vùng đồng bào các dân tộc thiểu số (DTTS) Việt Nam nói riêng.
Ở Việt Nam, phần lớn đồng bào các DTTS cư trú ở miền núi, vùng sâu, vùng xa và các khu vực biên giới có nhiều cửa ngõ thông thương với các nước láng giềng, chiếm ba phần tư diện tích lãnh thổ của cả nước. Qua suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước đã chứng minh rằng, vùng này luôn có vị trí chiến lược và ý nghĩa vô cùng quan trọng. Trong công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước, đây là nơi có tiềm năng to lớn về tài nguyên rừng và tài nguyên khoáng sản. Chính vì có vị trí quan trọng về phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ an ninh, quốc phòng, quá trình HNKTQT sẽ tạo điều kiện để có những tác động mạnh mẽ đối với kinh tế và đời sống vùng DTTS.
Thứ nhất, sẽ góp phần đẩy mạnh sản xuất vùng DTTS: thu nhập chính của đồng bào các DTTS chủ yếu dựa vào sản xuất nông, lâm nghiệp. Hội nhập đã mang đến những thành quả phát triển công nghệ, giúp bà con làm quen với phương thức, kiến thức sản xuất mới, tiếp cận với các công cụ sản xuất hiện đại hơn, dần dần xóa bỏ phương thức canh tác lạc hậu, công cụ sản xuất thô sơ, hiệu quả thấp trước kia. Những năm qua, sản lượng sản xuất nông nghiệp và công nghiệp của các tỉnh miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã tăng trưởng mạnh mẽ.
Thứ hai, sẽ góp phần mở rộng thị trường xuất khẩu cho sản phẩm của đồng bào các DTTS tham gia HNKTQT đã tăng cường và mở rộng thị trường quốc tế cho xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam. Những năm qua, kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông, lâm sản của nước ta tăng trưởng với tốc độ khá cao, trong đó có nhiều mặt hàng là thế mạnh sản xuất từ vùng đồng bào các dân tộc như chè, cà-phê, cao-su, gỗ và các sản phẩm từ gỗ, hạt điều, sắn các loại, ngô các loại, lạc nhân, các sản phẩm chăn nuôi (gia súc, gia cầm), hạt tiêu, ớt, vừng, đỗ...
Thứ ba, sẽ góp phần thúc đẩy thu hút đầu tư nước ngoài vào vùng DTTS, trong đó phải kể đến đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực du lịch, hầu hết vùng đồng bào các DTTS là những nơi có địa hình đồi, núi, sông, suối, hồ rất có tiềm năng, thế mạnh cho phát triển du lịch. Bên cạnh phong cảnh thiên nhiên ưu đãi, những loại hình dịch vụ du lịch mang đậm đà bản sắc các DTTS đã và đang hấp dẫn không chỉ đối với các du khách trong và ngoài nước mà còn đối với các nhà đầu tư nước ngoài.
Thứ tư, sẽ góp phần hỗ trợ công cuộc xóa đói, giảm nghèo, tỷ lệ đói nghèo cao nhất chính là vùng DTTS, chính vì vậy mà công cuộc xóa đói, giảm nghèo ở nơi đây rất được chú trọng. Cùng với những nỗ lực của Ðảng và Nhà nước, hội nhập đã mang lại những chia sẻ và tham gia của cộng đồng quốc tế đối với công cuộc xóa đói, giảm nghèo của vùng đồng bào dân tộc. Cộng đồng quốc tế không chỉ viện trợ về vật chất mà bao gồm cả chuyển giao kinh nghiệm, công nghệ, nâng cao dân trí, chăm sóc y tế, phổ cập giáo dục... cho đồng bào các DTTS.
Thứ năm, sẽ góp phần tăng cường trao đổi, hiểu biết giữa các dân tộc, hội nhập đã tạo điều kiện cho đồng bào các dân tộc trao đổi, học tập, tiếp thu những giá trị, tinh hoa của nhau để làm phong phú cho nền văn hóa của dân tộc mình, đồng thời đẩy mạnh tinh thần đoàn kết giữa các dân tộc.
Bên cạnh những tác động tích cực, HNKTQT còn đem lại những thách thức với kinh tế và đời sống vùng DTTS:
Một là, có khả năng gia tăng khoảng cách phát triển giữa những vùng DTTS với các trung tâm kinh tế của cả nước, hội nhập và toàn cầu hóa không chỉ đào sâu hố cách biệt giữa nước giàu và nước nghèo, nếu như những năm 1960 các nước công nghiệp chỉ giàu gấp ba lần các nước đang phát triển, thì nay tỷ lệ đó đã tăng vọt lên khoảng 75-76 lần, mà còn gia tăng khoảng cách giữa các vùng kém phát triển và các trung tâm kinh tế trong một quốc gia. Ở nước ta, quá trình HNKTQT đã phát triển mạnh mẽ những trung tâm kinh tế, thương mại và dịch vụ tập trung ở các thành phố, các thị xã và các khu vực có điều kiện thuận lợi. Trong khi đó, vùng đồng bào DTTS là nơi có nhiều khó khăn về điều kiện tự nhiên và xã hội, kinh tế chưa phát triển, trình độ dân trí thấp, hạn chế tiếp cận với nền kinh tế thị trường. Với xuất phát điểm thấp, đồng bào các dân tộc khó nắm bắt, tiếp thu thành quả khoa học và công nghệ cao để phát triển kinh tế - xã hội cũng như theo kịp sự phát triển nhanh của các trung tâm kinh tế, thương mại và dịch vụ khác trên cả nước. Chính vì vậy, Ðảng và Nhà nước luôn luôn quan tâm đầu tư xây dựng cơ bản đối với vùng DTTS, cơ cấu lại nguồn vốn đầu tư theo hướng tăng ngân sách đầu tư cho các tỉnh miền núi, vùng đồng bào dân tộc, những địa phương ít có điều kiện thu hút đầu tư kết cấu hạ tầng bằng các nguồn khác. Bên cạnh đó, chúng ta đã và đang triển khai nhiều cơ chế, chính sách ưu đãi dành cho đồng bào dân tộc thiểu số như: Chương trình 134, Chương trình 135, Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững cho 61 huyện nghèo (nay là 62 huyện), chính sách trợ giá, trợ cước, hỗ trợ giống lúa, hoa màu, gia súc, gia cầm, hỗ trợ lãi suất ngân hàng cho doanh nghiệp và hộ gia đình sản xuất, kinh doanh miền núi, vùng DTTS.
Hai là, hội nhập cho phép các dân tộc có nhiều cơ hội tiếp xúc với nhau hơn nên bước đầu đã hình thành nên những thói quen về sinh hoạt, tập tục, văn hóa... đó là nguyên nhân làm cho nền văn hóa của các dân tộc ngày càng mất dần đi bản sắc riêng. Bên cạnh đó, chính sách mở cửa của Việt Nam đã tạo điều kiện cho các phần tử xấu thâm nhập, chống phá Nhà nước vì mục đích chính trị, an ninh và kinh tế. Những phần tử này đã dựa vào miền núi, vùng sâu vùng xa, lợi dụng lòng tin, nhận thức còn bị hạn chế, đời sống vật chất khó khăn, thiếu thốn của đồng bào các dân tộc thiểu số để sai khiến, tuyên truyền, thông tin sai lệch chống phá Ðảng và Nhà nước Việt Nam.
Ðể hạn chế thách thức này, Ðảng và Nhà nước cũng như các tổ chức đoàn thể, tổ chức xã hội xây dựng những chương trình bồi dưỡng kiến thức, tuyên truyền giáo dục cho đồng bào các DTTS, khuyến khích đồng bào tham gia các tổ chức đoàn thể để tránh xa các thói hư, tật xấu. Ðồng thời cũng đẩy mạnh công tác bảo đảm an ninh, quản lý chặt chẽ và xử lý các đối tượng vi phạm pháp luật, lợi dụng lòng tin của đồng bào các dân tộc. Ðể phục hồi và phát huy nền văn hóa của các dân tộc, chúng ta đã thực hiện các biện pháp như tổ chức lễ hội truyền thống của các dân tộc, hướng dẫn cho đồng bào những cái hay, nét đẹp của văn hóa dân tộc mình cũng như các dân tộc khác.
Trong những năm qua, Ðảng và Nhà nước ta đã và đang luôn quan tâm đến miền núi, vùng đồng bào dân tộc thông qua những chủ trương và chính sách quan trọng cùng nguồn lực đầu tư đáng kể nhằm ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo những vùng khó khăn này trong tiến trình HNKTQT của đất nước. Ðể mang lại những lợi ích, hạn chế những tác động bất lợi đối với vùng DTTS trong bối cảnh kinh tế - tài chính toàn cầu đang có nhiều biến động hiện nay, chúng ta cần phải tiếp tục xây dựng những chính sách hướng tới đồng bào các DTTS, trong đó tập trung đào tạo nguồn nhân lực, đẩy mạnh liên kết kinh tế và liên kết thị trường vùng DTTS với thị trường nội địa cũng như thị trường quốc tế, hỗ trợ sản xuất và xuất khẩu nông, lâm sản và đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng vùng đồng bào các DTTS.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Một vị lãnh đạo Bộ Tài chính cho hay, bộ này đang xây dựng kịch bản cho giá xăng dầu từ nay đến cuối năm. Ứng với 3 mốc giá dầu thô dưới 70 USD/thùng; từ 70 đến 80 USD/thùng và trên 100 USD/thùng sẽ là 3 kịch bản giá.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 đã chỉ rõ, phải phấn đấu để Việt Nam trở thành quốc gia mạnh lên từ biển, giàu lên từ biển, trong đó kinh tế biển chiếm khoảng 53-55% GDP và 55-56% kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
Việt Nam đã có bước nhảy vọt trong bảng xếp hạng về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) được công bố ngày 19/5.
Nước ta giàu tài nguyên khoáng sản đến mức nào? Về việc này có lẽ nên nhắc lại một phát biểu dựa trên khoa học địa chất và ý tưởng thống kê của A. P. Aleksandrov, nguyên chủ tịch viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, theo đó trữ lượng khoáng sản của một nước nói chung tỷ lệ thuận với diện tích của nước ấy.
Chưa bao giờ yêu cầu phải có quy hoạch không gian ngầm lại cấp bách như hiện nay. Bởi theo xu hướng, không gian ngầm không chỉ là các công trình hạ tầng kỹ thuật mà còn là những tổ hợp trung tâm thương mại, công trình đa chức năng... Vì thế cần gấp rút hoàn thiện cơ sở pháp lý điều chỉnh các quan hệ mới phát sinh và lập quy hoạch nhằm tạo điều kiện đẩy mạnh phát triển không gian ngầm trong tương lai.
Giai đoạn 2010-2015 sẽ thiết lập và đưa vào hoạt động 16 khu bảo tồn biển. Đến năm 2015, có ít nhất 0,24% diện tích vùng biển Việt Nam nằm trong các khu bảo tồn biển và khoảng 30% diện tích của từng khu bảo tồn biển được bảo vệ nghiêm ngặt.
Qua gần 25 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tích đầy ấn tượng trong tăng trưởng kinh tế và xoá đói giảm nghèo. Tuy nhiên, nền kinh tế cũng đang bọc lộ ngày càng rõ những lo ngại về chất lượng và sự bền vững của quá trình tăng trưởng, xét cả về trung hạn và dài hạn. Bài viết này đưa ra một số đánh giá về chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam dưới các góc độ: chuyển dịch cơ cấu, hiệu quả của tăng trưởng, và một số khía cạnh về phát triển xã hội.
Ông Trương Đình Tuyển, thành viên hội đồng Tư vấn chính sách tài chính tiền tệ quốc gia, nhận định về tái cấu trúc nền kinh tế và tái cấu trúc doanh nghiệp trong bối cảnh hiện nay.
Sau một thời gian thí điểm, trong năm nay, ngành thuế có kế hoạch mở rộng triển khai kê khai thuế qua mạng trên phạm vi toàn quốc, với mục tiêu khoảng 6.000 doanh nghiệp, chiếm khoảng 60-70% số thu của cả nước.
Nhiều tổ chức tài chính, chuyên gia kinh tế nước ngoài nhận định, năm 2010 nguồn vốn FDI vào Việt Nam có nhiều triển vọng mới. Nhất là, sau hơn bốn tháng đầu năm, gắn với sự gia tăng cơ hội kinh doanh của các dự án FDI, niềm tin và những động thái tích cực mới, với sự cải thiện khá rõ về quy mô vốn đăng ký/dự án, cơ cấu vốn đăng ký và mức giải ngân thực tế...
Theo một số diễn giả trong diễn đàn mua bán sáp nhập doanh nghiệp (M&A) Việt Nam 2010 với chủ đề “Cùng hướng tới những thương vụ thành công” thì tỷ lệ thất bại của các thương vụ M&A tại Việt Nam hiện khá cao.
Khủng hoảng nợ Hy Lạp đang lan nhanh sang các nước châu Âu, trở thành khủng hoảng nợ khu vực. Liệu vấn đề này có ảnh hưởng đến kinh tế Việt Nam? Sài Gòn Giải Phóng đã có cuộc trao đổi với TS. kinh tế Đinh Xuân Quân, cố vấn của Bộ trưởng Nông nghiệp Liberia.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.