Tuyên bố chung Hua Hin của các nước Ủy hội sông Mekong nêu 4 vấn đề quan trọng: An ninh lương thực; phát triển năng lượng và thủy điện; giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu; tăng cường sự tham gia của các tổ chức xã hội trong xây dựng kế hoạch và tiến trình ra quyết định hành động.
Các nước thuộc Ủy hội sông Mekong đã nhất trí tăng cường hợp tác để bảo vệ giá trị to lớn của hệ sinh thái tự nhiên lưu vực sông Mekong.
Ngày 5/4, các nước thành viên Ủy hội sông Mekong (MRC) gồm Việt Nam, Thái Lan, Lào và Campuchia đã nhất trí ra Tuyên bố chung sau Hội nghị thượng đỉnh diễn ra tại Hủa Hin (Thái Lan) nhằm tăng cường hợp tác trong nỗ lực bảo vệ giá trị to lớn của hệ sinh thái tự nhiên và cân bằng sinh thái lưu vực sông Mekong.
Tuyên bố chung nêu 4 vấn đề quan trọng: An ninh lương thực; phát triển năng lượng và thủy điện; giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu; tăng cường sự tham gia của các tổ chức xã hội trong xây dựng kế hoạch và tiến trình ra quyết định hành động.
Bộ trưởng Bộ Tài nguyên-Môi trường Thái Lan Suwit Khunkitti cho biết ngoài vấn đề tham gia của các tổ chức xã hội vào tiến trình lập kế hoạch và ra quyết định hành động liên quan đến phát triển khu vực lòng chảo sông Mekong, 3 vấn đề còn lại được Hội nghị nhất trí thông qua và trình lên các nhà lãnh đạo cấp cao MRC.
Hơn 300 đại biểu các nước và tổ chức quốc tế tham dự Hội nghị đã khẳng định việc nâng quan hệ hợp tác giữa các nước lưu vực sông Mekong lên mức chính trị cao nhất là cần thiết, nhằm giải quyết các thách thức về nhu cầu lương thực và năng lượng ngày càng tăng ở các nước dọc dòng sông này.
Theo giới chuyên gia, các nước dọc sông Mekong đang phải hứng chịu áp lực ngày càng tăng từ biến đổi khí hậu và các động lực đòi hỏi thay đổi khác. Việc phát triển các dự án thủy điện và hạ tầng dọc sông Mekong sẽ mang lại nhiều cơ hội phát triển kinh tế cho các nước, nhưng đòi hỏi phải hài hòa với việc giải quyết các tác động xã hội và sinh thái phát sinh từ những dự án này.
An ninh lương thực phụ thuộc vào sự phát triển vững mạnh của hệ thống nông nghiệp và một cuộc “cách mạng xanh” về quản lý nguồn nước sẽ giúp nâng cao năng suất của các nền nông nghiệp dựa vào mưa và nước thủy lợi. Tuy nhiên, đảm bảo an ninh lương thực không chỉ phụ thuộc vào việc tăng cường đầu tư mà còn phải tính đến các yếu tố xã hội, môi trường và sinh thái.
Các chuyên gia cũng cho rằng kinh nghiệm của các nước đang phát triển trên thế giới về quản lý các dòng sông xuyên quốc gia cho thấy thay vì tập trung vào lợi ích cạnh tranh quốc gia, các nước cần quan tâm đến các lợi ích chung, cùng chia sẻ rủi ro, duy trì và đảm bảo an ninh nguồn nước.
Việc sử dụng nước phục vụ nông nghiệp hiệu quả hơn sẽ là một phần quan trọng trong các nỗ lực nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu. Các nhà khoa học nhận định thời tiết khắc nghiệt kéo theo hạn hán và lũ lụt nghiêm trọng. Để giảm thiểu tác động tiêu cực tiềm tàng của các thảm họa này, các nước trong khu vực cần phải gắn chiến lược quản lý rủi ro thảm họa với các chiến lược thích ứng với biến đổi khí hậu.
Việc đảm bảo an ninh nguồn nước cho nhân dân khu vực này cần được xác định là trọng tâm của việc thích ứng với biến đổi khí hậu. Do đó, các nước cần tăng cường phối hợp nâng cao hiệu quả quản lý đồng bộ nguồn nước và gắn nó với quản lý tốt đất đai.
Do biến đổi khí hậu diễn ra không phân biệt lãnh thổ quốc gia, tác động trực tiếp và mạnh mẽ nhất đến người nghèo, nên thích ứng với biến đổi khí hậu trong khu vực Mekong đòi hỏi các chính phủ và tổ chức xã hội trong khu vực tham gia các chiến lược chung, được tất cả các nước và các cộng đồng trong toàn khu vực nhất trí. Các hình mẫu quốc tế về đầu tư phát triển bền vững cả về tài chính, xã hội và môi trường nên được áp dụng cho khu vực này, trong đó tư nhân cần được khuyến khích nâng cao vai trò và tham gia tích cực các dự án phát triển hạ tầng xuyên quốc gia ở khu vực. Tuy nhiên, cần xác định rõ các chính phủ, chứ không phải khu vực tư nhân, phải chịu trách nhiệm chính về tác động của môi trường và biến đổi khí hậu từ các dự án phát triển.
Tuyên bố cũng nhấn mạnh các kế hoạch hành động được coi là yếu tố cần thiết để các nước thành viên thực thi nhằm giảm thiểu thiệt hại về người và của do lụt lội và mất kế sinh nhai do hạn hán gây ra. Các nước thành viên sẽ hợp tác để quản lý hiệu quả nguồn nước tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp, đặc biệt như một phần của chiến lược quản lý khô hạn.
Trong số các ưu tiên hàng đầu của MRC có việc tăng cường nỗ lực nhằm giảm thiểu một cách hiệu quả các nguy cơ do lụt lội, khô hạn và mực nước biển dâng cao, bao gồm cả việc thiết lập các hệ thống dự báo và cảnh báo.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
“Việc chấp hành chế độ báo cáo của các bộ, ngành, địa phương và các chủ đầu tư chưa thực hiện nghiêm túc, có hiện tượng buông lỏng trong thực hiện công tác giám sát, đánh giá đầu tư”.
Kinh tế Việt Nam hiện nay có thể được mô phỏng như một người vừa ốm dậy, vẫn còn không ít bộ phận cần được chữa trị quyết liệt mới hy vọng được bình phục hoàn toàn.
Nếu giữ lạm phát ở mức thấp (8,5%), kinh tế Việt Nam có thể tăng trưởng ở mức 6,3% trong năm nay. Trong khi đó, nếu chấp nhận lạm phát ở mức cao hơn (10,5%), GDP cả nước có thể gia tăng 6,8-6,9%.
Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Sinh Hùng nhận định hai năm qua, khu vực kinh tế tư nhân vẫn tiếp tục tăng trưởng khá trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam chịu ảnh hưởng lớn của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu.
Hiện tình hình khô hạn nghiêm trọng diễn ra trên cả nước đã ảnh hưởng lớn đến việc tích nước các hồ thủy điện. Tổng sản lượng thủy điện thiếu hụt do không tích được đầy các hồ thủy điện lên đến gần 1 tỷ kWh, gây ảnh hưởng lớn đến việc bảo đảm đủ nước cho sản xuất nông nghiệp và đủ điện cho các nhu cầu xã hội
Các chuyên gia kinh tế cho rằng Việt Nam cần hình thành hệ thống quốc gia về đổi mới (NIS) nhằm tạo ra khuôn khổ để Chính phủ xây dựng và thực thi các chính sách tác động tới quy trình đổi mới.
Kinh tế thế giới đã có những tín hiệu tích cực trong năm 2010. Nhưng những hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính-kinh tế thế giới như tình trạng nợ nần và thâm hụt ngân sách, nạn thất nghiệp cao đang có nguy cơ đẩy một số nền kinh tế phát triển vào cuộc suy thoái mới. Để ổn định và phát triển bền vững, Việt Nam cũng như nhiều nước đều đang phải đối mặt với nhiều thách thức....
Ông Ayumi Konishi, Giám đốc Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam nhận định với dân số ước đạt khoảng 100 triệu người vào năm 2020, trong đó có tới 60% dân số ở độ tuổi lao động và tỷ lệ này sẽ còn tiếp tục kéo dài trong vòng 30 năm nữa, Việt Nam có lợi thế rất lớn trong phát triển kinh tế.
"Bẫy thu nhập trung bình" là vấn đề mà nhiều nước đang mắc phải, đặc biệt là những nước có nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam, Malaysia, Thái Lan...
Kết luận của Ban Bí thư về việc khu vực tư nhân có thể tiếp cận nguồn vốn ODA là một bước hiện thực hóa chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển một nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó khu vực tư nhân được tạo điều kiện phát triển bình đẳng, kể cả tiếp cận với các nguồn vốn.
Chia sẻ những kinh nghiệm, ý kiến tại hội nghị sản xuất tại Việt Nam, nhiều vị tổng giám đốc cho rằng, để hấp dẫn đầu tư nước ngoài, Việt Nam cần nâng cao hơn nữa nội lực cạnh tranh, nhất là vấn đề giao thông.
Sự phụ thuộc quá nhiều vào các yếu tố bên ngoài có thể giúp Việt Nam tăng trưởng tới mức thu nhập trung bình, thậm chí có thể cao hơn nữa, nhưng rất có thể cũng sẽ chỉ dừng lại ở mức đó mà thôi - hay nói cách khác là đã rơi vào “bẫy thu nhập trung bình”. Với tiêu đề “Vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam”, Hội thảo do Diễn đàn Phát triển Việt Nam (VDF) tổ chức đã thu hút nhiều chuyên gia trong nước và quốc tế tham gia.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.