Kinh tế Việt Nam hiện nay có thể được mô phỏng như một người vừa ốm dậy, vẫn còn không ít bộ phận cần được chữa trị quyết liệt mới hy vọng được bình phục hoàn toàn.
Theo số liệu tổng hợp từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tốc độ tăng trưởng GDP quý I/2010 đã đạt 5,83% so với cùng kỳ năm trước, nghĩa là khoảng cách về đích 6,5% của cả năm 2010, như mục tiêu Quốc hội đã đề ra, không còn quá xa. Đáng mừng là trong đó, GDP của các khu vực công nghiệp - xây dựng, nông - lâm - ngư nghiệp và dịch vụ đều tăng tiến rõ rệt. Đây được xem như một trong những tín hiệu lạc quan về triển vọng hồi phục của kinh tế đất nước sau một năm suy giảm nặng nề kể từ năm “rớt đáy” - năm 1999 (chỉ tăng 4,77%) hay một năm “dương tính” không cao (năm 2009 chỉ tăng 5,32% so với mức tăng 8,46% của năm 2007).
Đáng mừng nữa, sản xuất công nghiệp đang trên đà tăng tốc phục hồi. Cụ thể là, giá trị sản xuất công nghiệp quý I/2010 tăng trưởng 13,6% so với cùng kỳ năm trước, thay vì chỉ tăng 7,6% trong năm 2009 (mức tăng thấp nhất kể từ năm 1991). Như vậy, sản xuất công nghiệp đang lấy lại phong độ của năm 2008 (tăng 13,9%). Sự phát triển của sản xuất công nghiệp có ý nghĩa hết sức quan trọng, nó phản ánh triển vọng phục hồi của xuất khẩu.
Thực vậy, kim ngạch xuất khẩu quý I/2010 đạt khoảng 14 tỷ USD, chỉ giảm 1,6% so với cùng kỳ năm trước, thay vì đã giảm 9,7% trong năm 2009 (mức hụt hẫng kỷ lục kể từ năm 1992 đến nay). Nghĩa là đà suy giảm xuất khẩu đã được chặn lại và đang trong xu hướng “hồi xuân”. Hơn nữa, thế bù cho sự thu hẹp thị trường xuất khẩu, thị trường tiêu thụ trong nước đã được nuôi dưỡng với sự hấp thụ khá mạnh. Cụ thể là, tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ toàn xã hội quý I/2010 đã tăng hơn 24% (vượt cao đáng kể so với mức tăng 18,6% của năm 2009).
Tuy nhiên, bên cạnh những tín hiệu lạc quan đó, cũng cần thấy hết những thách thức hết sức nan giải mà nền kinh tế đất nước đang phải đối mặt.
Một là, xuất khẩu hàng công nghiệp chế biến, nhóm hàng xuất khẩu quan trọng nhất của nước ta, mới đạt hơn 7,3 tỷ USD, giảm sút 9,5% so với cùng kỳ năm trước (trong khi xuất khẩu hàng nông - lâm - thủy sản và khoáng sản chỉ giảm 1-1,2%). Đáng chú ý hơn nữa là, riêng xuất khẩu của các DN có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), chủ yếu là hàng công nghiệp chế biến, đã chiếm 6,68 tỷ USD (không kể xuất khẩu dầu thô), tăng 40,5% so với cùng kỳ năm trước. Thực tế đó cho thấy, khả năng cạnh tranh, khả năng hồi phục sau khủng hoảng của các DN thuần Việt trong xuất khẩu hàng công nghiệp chế biến (nhóm hàng có giá trị tăng thêm cao) còn rất rất yếu; nó ảnh hưởng trực tiếp tới nguồn thu ngoại tệ của quốc gia.
Hai là, nhập siêu cao. Trong khi xuất khẩu của cả nước giảm sút 1,6% thì kim ngạch nhập khẩu tăng 37,6% với tổng giá trị lên đến trên 17 tỷ USD, khiến giá trị nhập siêu 3 tháng đầu năm nay đã vượt trên 3,5 tỷ USD. Trong đó, DN thuần Việt đã chiếm trên 3 tỷ USD, lớn gấp nhiều lần so với mức 420 triệu USD của khu vực DN FDI.
Ba là, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tiếp tục leo thang, báo động nguy cơ tái lạm phát ở mức cao.
Bốn là, thu hút vốn FDI chưa có tín hiệu phục hồi, quý I/2010 mới đạt 2,14 tỷ USD (cả cấp mới và bổ sung vốn), chỉ đạt gần 30% của cùng kỳ năm trước, mặc dù vốn đưa vào thực hiện triển khai các dự án đã cấp phép vẫn được duy trì ở mức đáng khích lệ, cả quý I/2010 đạt khoảng 2,5 tỷ USD. Điều đó cho thấy, làn sóng đầu tư mới vào Việt Nam chưa tiếp tục được khơi dậy, một phần do các nền kinh tế nước ngoài chưa được hồi phục vững chắc sau khủng hoảng, nhưng rất có thể còn do môi trường đầu tư tại Việt Nam chưa đủ độ hấp lực mạnh mẽ.
Năm là, mới 3 tháng đầu năm mà đã xuất hiện tình hình khan hiếm ngoại tệ và lãi suất tín dụng dâng lên quá cao, ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả sản xuất, kinh doanh, đầu tư và hoạt động ngoại thương.
Nhận thức sâu sắc những “căn bệnh” chủ yếu nêu trên để có liều thuốc chữa trị kịp thời được xem là điều hết sức cấp thiết, bởi gần đây xuất hiện không ít ý kiến nhận xét thổi phồng về tốc độ tăng trưởng của kinh tế đất nước, như Việt Nam là một trong hơn 10 quốc gia và nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng dương trong thời gian khủng hoảng kinh tế toàn cầu.
Tuy đó là sự thật rất đáng khích lệ, nhưng cần ghi nhận rằng, từ năm 1990 đến nay, kinh tế Việt Nam chưa có năm nào bị tăng trưởng âm, ngay cả năm 1991, khi Liên Xô sụp đổ và khối SEV tan rã, GDP của kinh tế nước ta vẫn tăng 5,81% so với năm trước. Điều đó không khó hiểu, vì GDP của nước ta lâu nay tăng trưởng chủ yếu nhờ tăng vốn đầu tư chứ không phải do tăng năng suất lao động xã hội hay do ứng dụng công nghệ cao. Vì vậy, chỉ tiêu GDP năm 2010 tăng ở mức 6,5% như Quốc hội đã dự kiến, có lẽ không phải là quá cao, bởi đã có chỉ tiêu “tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội bằng khoảng 41% GDP”.
Vì vậy, vấn đề mấu chốt hiện nay để thực hiện mục tiêu “ổn định kinh tế vĩ mô” chính là khắc phục hiệu quả 5 “vùng trũng” trong bức tranh kinh tế quý I/2010 như đã nêu./.
Nếu giữ lạm phát ở mức thấp (8,5%), kinh tế Việt Nam có thể tăng trưởng ở mức 6,3% trong năm nay. Trong khi đó, nếu chấp nhận lạm phát ở mức cao hơn (10,5%), GDP cả nước có thể gia tăng 6,8-6,9%.
Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Sinh Hùng nhận định hai năm qua, khu vực kinh tế tư nhân vẫn tiếp tục tăng trưởng khá trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam chịu ảnh hưởng lớn của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu.
Đánh giá cao môi trường đầu tư tại Việt Nam, hãng tin tài chính Bloomberg của Mỹ ngày 6/4 nhấn mạnh Việt Nam đang trở thành địa chỉ đầu tư hấp dẫn các tập đoàn đa quốc gia như Intel, Samsung, Toyota hay Microsoft...
Đối với Việt Nam hay những nước có thu nhập trung bình khác như Philippines, Indonesia, Malaysia, Thái Lan... cần ưu tiên đầu tư vào cơ sở vật chất và nhân lực để khuyến khích sự di chuyển lên chuỗi giá trị cao hơn trong sản xuất và xuất khẩu.
Dự kiến kinh tế Việt Nam sẽ tăng trưởng cao ở mức 6,5% cho năm 2010 và 6,8% cho năm 2011, tuy nhiên, Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) cũng đưa ra cảnh báo nguy cơ tái lạm phát.
“Việc chấp hành chế độ báo cáo của các bộ, ngành, địa phương và các chủ đầu tư chưa thực hiện nghiêm túc, có hiện tượng buông lỏng trong thực hiện công tác giám sát, đánh giá đầu tư”.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tuyên bố chung Hua Hin của các nước Ủy hội sông Mekong nêu 4 vấn đề quan trọng: An ninh lương thực; phát triển năng lượng và thủy điện; giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu; tăng cường sự tham gia của các tổ chức xã hội trong xây dựng kế hoạch và tiến trình ra quyết định hành động.
Hiện tình hình khô hạn nghiêm trọng diễn ra trên cả nước đã ảnh hưởng lớn đến việc tích nước các hồ thủy điện. Tổng sản lượng thủy điện thiếu hụt do không tích được đầy các hồ thủy điện lên đến gần 1 tỷ kWh, gây ảnh hưởng lớn đến việc bảo đảm đủ nước cho sản xuất nông nghiệp và đủ điện cho các nhu cầu xã hội
Các chuyên gia kinh tế cho rằng Việt Nam cần hình thành hệ thống quốc gia về đổi mới (NIS) nhằm tạo ra khuôn khổ để Chính phủ xây dựng và thực thi các chính sách tác động tới quy trình đổi mới.
Kinh tế thế giới đã có những tín hiệu tích cực trong năm 2010. Nhưng những hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính-kinh tế thế giới như tình trạng nợ nần và thâm hụt ngân sách, nạn thất nghiệp cao đang có nguy cơ đẩy một số nền kinh tế phát triển vào cuộc suy thoái mới. Để ổn định và phát triển bền vững, Việt Nam cũng như nhiều nước đều đang phải đối mặt với nhiều thách thức....
Ông Ayumi Konishi, Giám đốc Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam nhận định với dân số ước đạt khoảng 100 triệu người vào năm 2020, trong đó có tới 60% dân số ở độ tuổi lao động và tỷ lệ này sẽ còn tiếp tục kéo dài trong vòng 30 năm nữa, Việt Nam có lợi thế rất lớn trong phát triển kinh tế.
"Bẫy thu nhập trung bình" là vấn đề mà nhiều nước đang mắc phải, đặc biệt là những nước có nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam, Malaysia, Thái Lan...
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.