Một thời gian dài chúng ta quan tâm quá mức tới khía cạnh định chế: tách – nhập, giải thể, thành lập mới mà thiếu sự đồng bộ cần thiết với việc tái cấu trúc thể chế và thiết chế.
PGS.TS Phan Đăng Tuất. Ảnh: Chinhphu.vn
Hoạt động quản lý Nhà nước đối với các DN còn mang tính chất tình thế, khi xảy ra vụ việc, hiện tượng nào đó thì thành lập các tổ chức (Hội đồng, Ban, Tổ công tác…) để giải quyết. Cách làm này tuy là cần thiết nhưng không mang tính bền vững của quản lý Nhà nước đối với DN, cần có cách tiếp cận khác.
Về dài hạn, phải thực hiện tái cấu trúc doanh nghiệp căn bản từ Thể chế
Nội dung cốt lõi của tái cấu trúc doanh nghiệp (TCTDN) từ thể chế là việc xây dựng và ban bố “hệ thống chuẩn trị DN của Việt Nam”. Căn cứ vào hệ thống thể chế chính trị, văn hóa kinh doanh, các điều kiện và môi trường kinh doanh cụ thể, khoa học quản trị đang tạm khu trú 3 trường phái quản trị cơ bản là Trường phái quản trị Anh – Mỹ, Trường phái Đức và Trường phái Nhật Bản với sự khác biệt trên 13 tiêu chí so sánh.
Tuy vậy, các trường phái này đang ngày càng hội tụ theo xu thế hội nhập quốc tế và ngày càng phù hợp dần với hệ thống chuẩn trị của OECD. Hệ thống chuẩn trị của OECD được ban bố năm 1999, chỉnh sửa và hoàn thiện vào năm 2004 và được Diễn đàn ổn định tài chính thế giới; Tổ chức quốc tế các ủy ban chứng khoán (IOSCO); Mạng lưới quản trị quốc tế (ICGN) công nhận là quy tắc chung đối với các quốc gia và công ty. 5 chuẩn trị của OECD là: Hiệu quả, công bằng, minh bạch, trách nhiệm giải trình và chịu trách nhiệm pháp luật.
Theo kinh nghiệm nhiều năm làm tư vấn cho các DN, Hệ thống các văn bản nội bộ thuộc phạm vi thiết chế ở các DN lớn có thể lên tới hàng nghìn văn bản (gồm cả ở Công ty mẹ và các công ty con). Có thể nói ở Việt Nam, Công ty Vinamilk là một điển hình tốt về hệ thống văn bản thiết chế nội bộ, các văn bản này phần lớn được thực hiện với sự cộng tác của các tổ chức tư vấn. Điều này theo tôi biết ở Vinashin đã làm chưa tốt.
Nhiều nước ở châu Á sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 đã ban hành hệ thống chuẩn trị theo OECD.
Từ các kinh nghiệm đó, có lẽ đã đến lúc cần nghĩ đến việc ban bố và thực thi “hệ thống chuẩn trị DN của Việt Nam”. Đây sẽ là bước tái cấu trúc thể chế quan trọng để Việt Nam hội nhập vào hệ thống quản trị DN văn minh quốc tế.
Đổi mới hệ thống thiết chế DN phù hợp với điều kiện kinh doanh mới
Dựa vào hệ thống chuẩn trị doanh nghiệp được ban bố, các DN buộc phải hoàn thiện hệ thống thiết chế nội bộ theo bộ chuẩn trị đó. Cơ quan quản lý Nhà nước về quản trị DN (cần được thành lập trong tương lai như kinh nghiệm của các nước) sẽ là cơ quan thẩm định, phê chuẩn các thiết chế nội bộ DN.
Cơ quan này sẽ khai thác, sử dụng tối đa các tổ chức tư vấn trong việc thực thi nhiệm vụ. Những quy định bắt buộc về điều lệ, về số lượng và loại quy chế quản trị DN, các nội quy và quy định[1] bắt buộc phải có để quản lý công ty theo bộ chuẩn trị sẽ là con đường nhanh nhất, minh bạch nhất của thiết chế quản trị DN của nước ta.
Tiếp tục tái cơ cấu định chế của các DN
Ở các Tập đoàn lớn, các Tổng công ty có nhiều định chế (nhiều công ty con, kinh doanh đa lĩnh vực…) thì việc kiện toàn các định chế là vấn đề thường xuyên và liên tục. Việc giải thể theo luật phá sản, tách nhập các công ty con, việc mua, bán, thành lập mới các DN… làm cho định chế công ty thường xuyên thay đổi.
Tuy vậy định chế DN cần và phải bảo đảm đúng trật tự pháp luật (đúng thể chế), phải bảo đảm tăng tính minh bạch (thiết chế rõ ràng) do đó việc tái cấu trúc các định chế trong DN phải được thực hiện khoa học, đúng luật. Việc tập đoàn Vinashin thành lập gần 200 công ty con trong vòng 3 năm làm thay đổi đột biến các định chế, mà thể chế và thiết chế không theo kịp là nguyên nhân cơ bản gây nên sự cố ở Tập đoàn này. Trong điều kiện đó, do không thể có báo cáo tài chính hợp nhất nên không thể đánh giá, kiểm soát đúng hiệu quả thật.
Xin đề xuất một quy trình kiện toàn định chế DN gồm các bước:
Trước hết khẳng định tầm nhìn, định hướng chiến lược và mục tiêu kinh doanh của DN tái cơ cấu. Ở đây cần chỉ rõ lĩnh vực kinh doanh chủ đạo. Thậm chí chỉ rõ sản phẩm chính, bộ phận chính mà DN sẽ chế tạo.
Trên cơ sở đó xác định hệ thống các DN công nghiệp hỗ trợ (DNCNHT) phù hợp. Đây là việc làm hết sức quan trọng vì nếu xác định đúng sẽ đảm bảo DN có một định chế gọn nhẹ, dễ liên kết và hiệu quả, mặt khác sẽ thúc đẩy xã hội hóa phát triển các DNCNHT không thuộc định chế của DN tái cấu trúc. Ngược lại nếu xác định không chính xác các định chế nội bộ thì vẫn tiếp tục phải gánh chịu hiệu quả thấp và các bất cập trong quản lý DN.
Về vấn đề này xin nhắc lại “Luật xúc tiến thầu phụ” mà Tổng thống Hàn Quốc ban bố năm 1975, luật này ghi rõ: “Cấm DN lớn làm chi tiết nhỏ” và ban hành danh mục 1.553 chi tiết, linh kiện DN lớn không được làm mà buộc phải để cho các DN vừa và nhỏ độc lập thực hiện. Đây là một đạo luật có tác dụng rất lớn trong việc phát triển CNHT của Hàn Quốc.
Để xác định đúng đắn các định chế thành viên của DN tái cấu trúc cần xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá sự phù hợp, trong đó chú ý: Các định chế trong DN mới (sau tái cấu trúc) phải thực sự hiệu quả trong việc phát huy công suất phục vụ cho sản xuất chính. Nói cách khác là bảo đảm khai thác tối đa “hệ số đồng bộ công suất” của các định chế thuộc DN; Các định chế này phải liên kết tốt nhất trong việc khai thác năng lực sản xuất kinh doanh như liên kết sử dụng thiết bị, công nghệ và các dịch vụ công nghiệp khác (như kiểm định chất lượng, tư vấn, thông tin…). Mặt khác phải khắc phục triệt để tình trạng tổ chức sản xuất khép kín trong các DN lớn; Phải bảo đảm giảm thiểu các rủi ro thị trường bởi vì nếu các sản phẩm cuối cùng không tiêu thụ được sẽ làm cho toàn bộ các định chế trước đó phải ngừng hoạt động, lãng phí sẽ lớn nếu có quá nhiều định chế trong một DN.
Ví dụ nếu đóng tàu mà có quá nhiều định chế thuộc tập đoàn (như nhà máy sản xuất thép, que hàn, sơn…) thì khi khủng hoảng không bán được tàu sẽ đình trệ sản xuất thép, que hàn, sơn… Khi đó thật khó có thể bán thép, que hàn, sơn ra thị trường đang trong điều kiện khủng hoảng , đặc biệt là các hãng sản xuất thép, que hàn, sơn chuyên môn hoá và sản xuất số lượng lớn luôn chiếm ưu thế cạnh tranh về giá cả và chất lượng cũng như quan hệ cung ứng.
Phải đảm bảo được các tôn chỉ chất lượng sản phẩm vì nếu các chi tiết được cung cấp từ các công ty con của một tập đoàn chẳng hạn thì việc kiểm soát chất lượng sẽ khó khách quan. Ví dụ nếu trong tập đoàn Vinshin có nhà máy sản xuất que hàn thì việc cung cấp que hàn không được kiểm tra nghiêm ngặt sẽ dễ gây rủi ro cho tàu thành phẩm nhất là khi thiết chế nội bộ còn lỏng lẻo.
Phải bảo đảm có được báo cáo tài chính hợp nhất minh bạch nhất. Đây là tiêu chí kỹ thuật nhưng rất quan trọng vì nếu có quá nhiều định chế với nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau (như Vinashin vừa qua) thì rất khó có được báo cáo tài chính hợp nhất.
Từ các khó khăn của tập đoàn Vinashin vừa qua càng cho thấy TCTDN nhất là DNNN là một vấn đề rất cấp thiết. Một mặt về dài hạn cần bắt đầu từ thể chế, hoàn thiện thiết chế đến xác định khoa học các định chế trong các Tập đoàn, Tổng công ty.
Để thực hiện vấn đề trọng đại này, vai trò to lớn đặt lên “Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển DN” của Chính phủ mà trong tương lai cần phải thực hiện chức năng là một Ủy ban quốc gia về quản trị DN như kinh nghiệm của các nước. Đồng thời với một hệ thống chuẩn trị DN quốc gia, việc tham gia của hệ thống các tổ chức tư vấn có ý nghĩa vô cùng quyết định.
Sau 8 năm TPHCM thực hiện sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp (DN) nhà nước, hơn 300 DN đã và đang được chuyển đổi. Do thị trường bất động sản không ổn định nên việc cổ phần hóa, chuyển đổi mô hình DN gặp không ít khó khăn. Tuy nhiên, nhờ hướng đi đúng cộng với sự năng động, sáng tạo, TPHCM đã kịp thời kiến nghị Chính phủ gỡ khó, đẩy nhanh tiến trình đưa DN nhà nước thoát cơ chế “bao cấp”, đủ sức cạnh tranh theo cơ chế thị trường.
Sáng 9-9, tại Hà Nội, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội LĐ-TB&XH), Tổ chức lao động quốc tế (ILO) và Liên minh châu Âu đã tổ chức hội nghị đánh giá hiệu quả sàn giao dịch việc làm (GDVL), hoạt động của các trung tâm giới thiệu việc làm giai đoạn 2006-2010.
Chỉ số cạnh tranh của Việt Nam là 4,27 và vượt 16 bậc lên vị trí thứ 59. Trong khi đó Forbes hạ 5 bậc xếp hạng môi trường kinh doanh của Việt Nam.
"Cú sốc" Vinashin làm lộ rõ hơn "lỗ hổng" về quản lý, giám sát hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN), cũng như công tác quản trị tại các DN này. Bởi vậy, theo các chuyên gia kinh tế, đã đến lúc tái cấu trúc mậnh mẽ các DNNN, để không chỉ giúp khu vực DN này làm ăn hiệu quả hơn, mà còn tránh một "Vinashin thứ 2" sảy chân.
Chuyển giao lưới điện hạ áp nông thôn cho ngành Điện thống nhất quản lý sẽ giúp giải quyết dứt điểm các tồn tại kéo dài như quản lý lưới điện manh mún, thiếu tính chuyên nghiệp, năng lực tài chính và trình độ kỹ thuật hạn chế...
Dự kiến, khoảng cuối năm 2011, khi hoàn thành việc nâng tĩnh không cầu Kinh Thanh Đa, lộ trình 1 (từ Linh Đông (quận Thủ Đức) về quận 1) của buýt đường sông sẽ được đưa vào hoạt động.
Việc phát động và thực hiện “tái cấu trúc doanh nghiệp” là một chủ trương lớn, rất quan trọng của Đảng và Nhà nước, có thể coi là một nội dung trọng tâm, xuyên suốt của kỳ kế hoạch 5 năm tới đây. Để góp phần nhận thức về vấn đề này, Cổng TTĐT Chính phủ giới thiệu bài viết của PGS, TS Phan Đăng Tuất, Viện trưởng Viện nghiên cứu chiến lược, chính sách công nghiệp – Bộ Công Thương.
Trong Dự thảo Chương trình phát triển công nghiệp công nghệ thông tin đến 2015, Bộ Thông tin và Truyền thông đặt mục tiêu đến 2015 sẽ đào tạo lại 50 nghìn kỹ sư trình độ cao, thông thạo chuyên môn và ngoại ngữ.
Cả nước đã có trên 1,537 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (TECHCĐB), chiếm khoảng 1,79% dân số và khoảng 6% dân số trong độ tuổi trẻ em. Trước thực tế này, Bộ Lao động–Thương binh và Xã hội chủ trương xây dựng và nhân rộng các mô hình trợ giúp TECHCĐB dựa vào cộng đồng.
Còn khá nhiều dư địa cho nỗ lực tạo ra môi trường kinh doanh thông thoáng, tiết kiệm hơn, một khi tiếp tục nâng cao tính minh bạch của hệ thống chính sách điều tiết hoạt động kinh doanh, nhất là cơ quan quản lý "rộng cửa" hơn cho cộng đồng DN tiếp cận thông tin của nhà quản lý.
“65 năm qua, từ chỗ bị bao vây cô lập, quan hệ đối ngoại của Việt Nam được mở rộng chưa từng có, ngày càng đi vào chiều sâu, góp phần quan trọng vào sự nghiệp cách mạng và thúc đẩy phát triển thương mại, đầu tư”.
Thủ tướng mong muốn, các địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long liên kết với nhau chặt chẽ hơn, huy động cao nhất các nguồn lực bên trong và bên ngoài, phát triển một cách bền vững.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.