Ngày 5-8-2008, Nghị quyết số 26-NQ/T.Ư của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành T.Ư khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn được ban hành. Sau 20 năm đổi mới, đây là lần đầu Ðảng ta có một nghị quyết toàn diện nhất về nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong điều kiện kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế.
Khu nhà mới cho người dânở xã Ba Vinh (Ba Tơ, Quảng Ngãi).
Quan trọng là vấn đề nội dung và biện pháp tổ chức thực hiện và xây dựng nông thôn mới - một Chương trình mục tiêu quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn 2030 như thế nào cho có hiệu quả.
Ðến năm 2020, lao động nông thôn chiếm 30% số lao động xã hội
Trong Nghị quyết số 26-NQ/T.Ư đưa ra mục tiêu: "Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Ðảng được tăng cường". Như vậy, nông thôn mới trước tiên phải là nông thôn, không phải là thị tứ, thị trấn, thị xã, thành phố và khác với nông thôn truyền thống hiện nay, có thể khái quát gọn theo năm nội dung cơ bản sau: Ðó là làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; sản xuất phải phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hóa; đời sống về vật chất và tinh thần của dân nông thôn ngày càng được nâng cao; bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển; xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ.
Thực tế hiện nay trong quá trình chỉ đạo 11 xã điểm triển khai xây dựng nông thôn mới ở nước ta đang gặp phải ba khó khăn lớn sau đây: Một là, tăng nhanh, bền vững thu nhập cho nông dân. Theo tinh thần Nghị quyết số 26-NQ/T.Ư, đến 2020 thu nhập của dân nông thôn tăng gấp 2,5 lần hiện nay, bình quân cư dân nông thôn hiện nay thu nhập 400 USD/người/năm (cả nước xấp xỉ 1.000 USD/người), trong khi cả nước hiện còn hơn 2.000 xã/9.800 xã nghèo nhất nước có tỷ lệ hộ nghèo dưới 50%, khoảng cách chênh lệch giữa nông thôn và đô thị đang ngày càng rộng ra, đất đai nông nghiệp ngày càng thu hẹp, khí hậu thời tiết ngày càng khắc nghiệt, đó là thách thức rất lớn.
Hai là, xây dựng hạ tầng nông thôn hiện đại, trong điều kiện thực tế hạ tầng nông thôn quá lạc hậu, nhất là miền núi, vùng đồng bằng sông Cửu Long, trong khi nguồn vốn đầu tư của Chính phủ rất hạn chế. Mặt khác, lại phải xây dựng được môi trường sinh thái nông thôn, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Xây dựng nông thôn mới không phải biến nông thôn thành thành thị.
Ba là, chuyển dịch cơ cấu lao động trong nông thôn theo hướng giảm dần lao động nông nghiệp, sao cho đến năm 2020, lao động nông nghiệp chiếm 30% lao động của xã hội (thay vì gần 60% như hiện nay).
Giải pháp thực hiện
Trong đề án Chương trình mục tiêu quốc gia về Nông thôn mới, Chính phủ quyết định sáu giải pháp chủ yếu để thực hiện 11 nội dung mà Chương trình mục tiêu quốc gia đề ra, nhằm đạt mục tiêu cụ thể từ nay đến năm 2015 có 20% số xã đạt chuẩn nông thôn mới và đến năm 2020 có 50% số xã đạt chuẩn nông thôn mới (theo bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới do Chính phủ ban hành). Ở đây, xin nêu một số điểm cần lưu ý khi thực hiện các giải pháp để xây dựng nông thôn mới.
Một là, trong quá trình tổ chức cuộc vận động xã hội về xây dựng nông thôn mới phải nhận thức được vị thế chủ thể của người nông dân (bao gồm cả vị thế chính trị, kinh tế). Ðây là nhóm dân số đông nhất hiện nay ở nước ta, nhưng hiện tại đời sống kinh tế - văn hóa đang còn nhiều khó khăn và nhìn chung là nhận thức thấp.
Theo đó, nông thôn là khu vực rộng lớn nhất, đa dạng cư dân, đa dạng văn hóa truyền thống (kể cả tập tục lạc hậu) hạ tầng lạc hậu..., môi trường sinh thái đang bị hủy hoại nghiêm trọng. Vì vậy, cần có cách tổ chức vận động phù hợp.
Hai là, quyết định lựa chọn một cách khoa học, sát thực tế với từng địa phương những nội dung, việc cần ưu tiên làm trước. Trong đó, kiên trì quy hoạch, bổ sung quy hoạch lại nông thôn theo tiêu chí nông thôn mới và phải đi trước một bước.
Từ quy hoạch tổng thể, phân khu chức năng đến quy hoạch chi tiết, tôn trọng quá trình tích lũy nhiều đời quy hoạch làng quê Việt Nam. Hạn chế tối đa gây xáo trộn, tốn kém gây tâm lý không tốt, không thiết thực khi làm quy hoạch.
Việc đầu tư cần thiết về cơ sở hạ tầng trong quá trình xây dựng nông thôn mới chỉ thực hiện khi phê duyệt xong quy hoạch.
Ba là, kiên trì, lâu dài hỗ trợ nông dân về khoa học - kỹ thuật, đưa tiến bộ khoa học vào nông nghiệp, nông thôn.
Nông dân và con cái họ chịu nhiều thiệt thòi về điều kiện tiếp nhận khoa học - kỹ thuật mới. Không đủ lực (kể cả tiền và trình độ học vấn) để ứng dụng khoa học - kỹ thuật. Phải đi từ thấp lên cao, đưa ứng dụng kỹ thuật mới phải thực tế. Khuyến nông là một giải pháp rất hữu hiệu ở nước ta và kinh nghiệm quốc tế. Cùng với việc này là tập trung triển khai nhanh chương trình đào tạo cho cư dân nông thôn theo Quyết định số 1956/QÐ-TTg ngày 27-11-2009.
Bốn là, đầu tư từ nhiều nguồn cho nông thôn để xây dựng hạ tầng và công trình phúc lợi công cộng (hiện nay Chính phủ quyết định bảy hạng mục công trình "cứng") Nhà nước đầu tư 100%, tạo sự thay đổi bộ mặt nông thôn. Nhưng về lâu dài là chính sách thu hút sự đầu tư của doanh nghiệp về với nông thôn.
Một sự thật là, sản phẩm nông nghiệp đang góp phần nâng vị thế quốc gia trên trường quốc tế về mặt kinh tế. Sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu đứng trong tốp năm trên thị trường quốc tế, còn các sản phẩm công nghiệp, thậm chí có giá trị xuất khẩu lớn như dệt may nhưng cũng đang ở vị trí sau tốp 5, và hàm lượng quốc gia trong sản phẩm dệt may chưa quá 10%.
Nhưng hiện nay, doanh nghiệp đứng chân ở nông thôn quá ít, chính sách giảm phần rủi ro cho người nông dân trong sản xuất nông, lâm, thủy sản quá thiếu, doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực này hiệu quả cũng thấp và thiếu ổn định, thường đẩy rủi ro về người sản xuất. Nếu sự phát triển sản xuất của cư dân nông thôn gắn kết với doanh nghiệp tại nông thôn, theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp đó là cách tốt nhất không chỉ là huy động nguồn lực, mà còn là cách "dẫn dắt nông dân ra thị trường" khắc phục được kiểu đưa thị trường về nông thôn - "thả nổi nông dân trong cơ chế thị trường".
Mặt khác, tạo cơ hội cho cư dân nông thôn tham gia đầu tư không chỉ cho sản xuất của chính mình, mà cả phúc lợi công cộng do chính mình được hưởng. Hình thành "giá đỡ" để nông dân yên tâm sản xuất sản phẩm nông, lâm, ngư nghiệp.
Xây dựng thành công chương trình nông thôn mới trên phạm vi cả nước là mục tiêu chiến lược, lâu dài của Ðảng ta. Ðến năm 2020, mục tiêu đặt ra là 50% số xã đạt chuẩn xã nông thôn mới. Vậy sau bao nhiêu năm nữa Việt Nam có 70 - 80 - 90 và 100% số xã đạt chuẩn Quốc gia nông thôn mới? Ðó là nhiệm vụ còn lâu dài không chỉ tầm nhìn đến năm 2030. Thực hiện mục tiêu đến năm 2015 có 20% số xã đạt chuẩn nông thôn mới cũng là một thách thức lớn. Cần có cơ chế, chính sách để huy động cả hệ thống chính trị tham gia, để người dân hiểu được và tự giác tham gia vào việc xây dựng nông thôn mới, nông thôn của thời kỳ CNH, HÐH đất nước.
Hồ Xuân HùngThứ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Tại diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam, một hoạt động được tổ chức trước thềm Hội nghị giữa kỳ nhóm Tư vấn các nhà tài trợ 2010 do tổ chức Tài chính quốc tế (IFC) - thành viên thuộc nhóm ngân hàng Thế giới và Bộ Kế hoạch - Đầu tư phối hợp tổ chức tại Hà Nội ngày 26/5, nhiều đại biểu cho rằng để Việt Nam nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế thì Chính phủ cần quan tâm hơn nữa đến 3 vấn đề.
Khoảng cách giàu - nghèo không phải chỉ là một chỉ tiêu kinh tế. Nó còn phản ánh sự gắn kết xã hội và là một thể hiện của sự bình đẳng trong xã hội. Khoảng cách giàu - nghèo ắt sẽ nảy sinh. Nhưng sự bền vững của phát triển ở tất cả các nước, và hơn thế nữa định hướng xã hội chủ nghĩa, không chấp nhận khoảng cách giàu - nghèo đi vào phân cực quá một ngưỡng cho phép.
Không chỉ dừng ở sự quan tâm, mà đã có sự hối thúc rõ ràng từ cộng đồng doanh nghiệp và các nhà tài trợ về hoàn thiện khung pháp lý cho việc triển khai mô hình hợp tác công - tư (PPP) trong phát triển cơ sở hạ tầng ở Việt Nam.
Không đủ nhân lực, nhưng ngành điện Bà Rịa –Vũng Tàu không chịu thuê các đơn vị có chức năng thực hiện một số hạng mục thi công, nhằm giảm bớt áp lực công việc; Bảo đảm tiến độ công trình, cấp điện phục vụ nhu cầu cấp thiết của người dân các vùng “khát điện” từ nhiều năm qua.
Làm cách nào để Việt Nam vừa có thể giải quyết được những sức ép ngắn hạn, vừa đảm bảo phát triển dài hạn? Đó là bài toán mà các chuyên gia UNDP đưa ra cho Việt Nam trong Điều tra kinh tế - xã hội khu vực châu Á – Thái Bình Dương 2010.
Trong đơn kiến nghị ngày 15/5/2010 gửi Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan liên quan, các cơ quan báo chí, một loạt DN đồng loạt kiến nghị ba nội dung. Theo đó, tất cả đều khẳng định Bộ Tài chính đã thiếu nhất quán trong ban hành chính sách thuế, Tổng cục Hải quan thì thiếu nhất quán trong thực hiện chính sách thuế.
Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới vừa qua đến nền kinh tế nước ta đã cho thấy một bài học: Tăng trưởng kinh tế bền vững là giải pháp "tự vệ" hiệu quả nhất, đồng thời hạn chế được những bất ổn đối với nền kinh tế nước nhà.
Nước ta giàu tài nguyên khoáng sản đến mức nào? Về việc này có lẽ nên nhắc lại một phát biểu dựa trên khoa học địa chất và ý tưởng thống kê của A. P. Aleksandrov, nguyên chủ tịch viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, theo đó trữ lượng khoáng sản của một nước nói chung tỷ lệ thuận với diện tích của nước ấy.
Việt Nam đã có bước nhảy vọt trong bảng xếp hạng về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) được công bố ngày 19/5.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 đã chỉ rõ, phải phấn đấu để Việt Nam trở thành quốc gia mạnh lên từ biển, giàu lên từ biển, trong đó kinh tế biển chiếm khoảng 53-55% GDP và 55-56% kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.