Tỷ lệ đầu tư trên giá trị tăng thêm của khu vực II (gồm công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến và xây dựng) những năm gần đây luôn rất cao nhưng tỷ lệ giá trị tăng thêm của nhóm ngành này lại đang giảm nhanh. Ảnh: Lê Toàn.
Lâu nay trong các báo cáo và nhiều bài viết mang tính nghiên cứu đều mặc nhiên thừa nhận cơ cấu của khu vực II (bao gồm công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến và xây dựng) và khu vực III (dịch vụ) trong GDP cần phải tăng lên và coi đó như một sự phát triển kinh tế đúng hướng. Nhiều ý tưởng về tái cấu trúc kinh tế cũng cho rằng cần đẩy mạnh cả khu vực II và khu vực III.
Nghiên cứu này phân tích kỹ khu vực II dưới các góc độ đầu tư, nhập siêu và tổng nhu cầu nhập khẩu cho một đơn vị sản phẩm cuối cùng của khu vực này.
Về đầu tư
Tỷ lệ đầu tư trên giá trị tăng thêm của khu vực II từ năm 2000 đến nay luôn rất cao, năm 2000 tỷ lệ này khoảng 41%, đến năm 2007 xấp xỉ 47%. Tuy nhiên, điều trớ trêu là tỷ lệ giá trị tăng thêm của nhóm ngành này lại giảm nhanh đến kinh ngạc.
Tỷ lệ này theo cấu trúc của bảng I/O năm 2000 của Tổng cục Thống kê là 34%, nhưng đến những năm gần đây (cấu trúc của bảng I/O mới) chỉ là 27%. Điều này có nghĩa càng ngày khu vực này càng kém hiệu quả, lượng đầu tư ngày càng phải tăng lên (xem hình 1) để bù đắp vào sự kém hiệu quả trong sản xuất kinh doanh.
Về xuất nhập khẩu
Khu vực II cũng là khu vực khiến nhập khẩu gia tăng nhanh chóng. Tỷ lệ nhập khẩu của khu vực này chiếm trên 90% tổng giá trị nhập khẩu từ năm 2000 đến nay và khu vực này cũng là khu vực khiến nhập siêu ngày càng trầm trọng (xem hình 2).
Một điều đáng quan tâm là khu vực này không chỉ có mức đòi hỏi nhập khẩu cao để làm đầu vào cho sản xuất mà còn có mức độ lan tỏa về nhập khẩu rất lớn. Điều này có nghĩa khi tăng lên một đơn vị sản phẩm cuối cùng của khu vực này thì tổng ảnh hưởng về nhập khẩu cao hơn mức bình quân chung của nền kinh tế. Nói cách khác, có thể lý giải một cách trực quan rằng khi một sản phẩm của khu vực này được bán trong nước, hoặc xuất khẩu thì chỉ kích thích nhập khẩu mà thôi. Như vậy, tuy sản phẩm được sản xuất trong nước nhưng thực chất cũng là nhập khẩu và nếu khu vực II càng được mở rộng thì càng phải đầu tư nhiều và càng kích thích nhập khẩu.
Cần tập trung cho nông nghiệp và dịch vụ
Bảng 1 cho thấy nhu cầu về nhập khẩu lan tỏa bởi tích lũy, xuất khẩu và tiêu dùng trung gian (đối với các sản phẩm sản xuất trong nước) ngày càng tăng, đặc biệt các sản phẩm sản xuất trong nước được sử dụng cho tích lũy tài sản là kích thích nhập khẩu mạnh nhất. Điều này khẳng định và bổ sung cho nhận định ở trên là nhiều sản phẩm dù mang nhãn mác sản xuất của Việt Nam nhưng thực ra cũng chỉ mang tính chất gia công hoặc lắp ráp. Lập luận này cũng bác bỏ ý kiến cho rằng Việt Nam cần tăng cường công nghiệp phụ trợ, vì nền công nghiệp chế biến của Việt Nam thực ra toàn là công nghiệp phụ trợ.
Như vậy để có một cơ cấu kinh tế hợp lý, tỷ trọng khu vực II cần nhỏ lại ở mức phù hợp và tập trung vào những ngành có chỉ số lan tỏa cao như công nghiệp chế biến sản phẩm nông nghiệp. Ở đây, người viết thấy rằng công nghiệp không nên là khu vực mũi nhọn ở Việt Nam. Khu vực I (nông, lâm, thủy sản) không thể bị teo tóp quá vì đây là khu vực quan trọng là điểm tựa cho các khu vực khác. Sản phẩm của khu vực này là đầu vào của khu vực II và mục đích quan trọng hơn cả của khu vực này là đảm bảo an ninh lương thực.
Bên cạnh đó, cần tập trung để đồng thời tăng tỷ trọng và chỉ số lan tỏa của khu vực III vì ngoài nhiều yếu tố, thì yếu tố xuất khẩu của khu vực này là “tiền tươi, thóc thật”.
Do khu vực II của Việt Nam cơ bản không tự chủ được nguyên vật liệu đầu vào mà hầu hết đều từ nhập khẩu, hơn nữa do việc chú trọng quá mức vào đầu tư cho khu vực này trong khi nguồn tiết kiệm (saving) của nó lại quá yếu, kết quả là những bất ổn vĩ mô như thâm hụt cán cân thương mại và thâm hụt ngân sách là khó tránh khỏi. Vì vậy, theo thiển ý, nguyên nhân chính của những bất ổn vĩ mô là do cơ cấu kinh tế chưa hợp lý.
(*) Dựa vào nghiên cứu của Bùi Trinh, Phạm Lê Hoa, Bùi Châu Giang “Import multiplier in input-output analysis” No 23, working paper, Development and Policies Research Center (DEPOCEN), Vietnam.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Giữ ổn định kinh tế vĩ mô trong điều kiện hiện nay cần được coi là mục tiêu ưu tiên hàng đầu, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Hà Văn Hiền báo cáo trước Quốc hội tại phiên khai mạc kỳ họp thứ bảy, sáng 20/5.
Tạo bước chuyển biến rõ rệt về năng suất và chất lượng của các sản phẩm, hàng hóa chủ lực, khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.
Mặc dù nền kinh tế đang hồi phục mạnh mẽ, tạo đà cho việc hoàn thành Kế hoạch Phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010, nhưng vẫn có thể có tới 10/23 chỉ tiêu không đạt mục tiêu đề ra, trong đó có nhiều chỉ tiêu cơ bản nhất về phát triển kinh tế.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Liên minh châu Âu (EU) và Việt Nam đang tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp hai phía thâm nhập thị trường của nhau thông qua nhiều chương trình hỗ trợ thương mại song phương. Doanh nghiệp Việt Nam nên tận dụng điều kiện này khi có kế hoạch tạo dựng kinh doanh lâu dài ở EU.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và sự gia tăng dân số đang đặt ra những thách thức cho chính quyền TP.HCM trong công tác quản lý đô thị, trong đó tình trạng kẹt xe đang trở thành nỗi ám ảnh đối với người dân đồng thời cũng là rào cản trên con đường phát triển thành phố thành một đại đô thị (megacity).
Đề án thu quỹ bảo trì đường bộ qua giá xăng dầu (1.000 đồng/lít xăng) do Tổng cục đường bộ Việt Nam soạn thảo chưa có cơ sở khoa học và chưa dựa trên thu nhập thực tế của da số người dân. Đó là ý kiến của nhiều nhà khoa học cùng các chuyên gia trong lĩnh vực giao thông.
Trong bối cảnh cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính toàn cầu ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế trong nước cũng như đời sống nhân dân, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 497/2009/QĐ-TTg nhằm hỗ trợ vốn vay mua máy móc, thiết bị, vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp và vật liệu xây dựng nhà ở khu vực nông thôn. Đến nay, những hỗ trợ của Chính phủ với nông dân đã đạt những kết quả đáng khích lệ.
Nhận định triển vọng kinh doanh đã và sẽ tốt lên chiếm áp đảo, nhiều doanh nghiệp dự định mở rộng đầu tư và tăng nhân lực. Nhưng, không ít ý kiến lo ngại khó tiếp cận vốn và biến động điều kiện kinh doanh.
Trong vài thập kỷ gần đây, Thấm Quyến (Trung Quốc), Dubai (Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất) và Incheon (Hàn Quốc) nổi lên như những mô hình khu kinh tế biển có sự phát triển đầy ấn tượng. Mỗi khu kinh tế biển này đã lựa chọn một đường hướng phát triển riêng.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.