Đối với nhiều nhà đầu tư nước ngoài, công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam vẫn là một doanh nghiệp ngành kém phát triển. Ảnh: Thanh Tao.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa như Việt Nam, tư duy kinh tế chỉ huy còn phổ biến thì không nên đặt vấn đề sử dụng tài sản quốc gia (dù là tiền thuế của dân hay đất đai của công) để khuyến khích phát triển công nghiệp một cách tham vọng, vì điều đó sẽ chỉ dẫn tới sự lãng phí.
Chính sách phát triển giẫm chân tại chỗ?
Phát triển công nghiệp hỗ trợ (supporting industries - SI) từ hơn một thập kỷ qua, là vấn đề đã được Việt Nam cũng như Nhật Bản quan tâm. Nhiều hội nghị, hội thảo đã được tổ chức với nhiều gợi ý đề xuất về các biện pháp chính sách nuôi dưỡng rất đa dạng, từ thành lập các cơ quan quản lý nhà nước chuyên trách, tới xin đất xây dựng khu công nghiệp SI, hay tổ chức hội chợ ngược, xuôi... Tuy nhiên, dù được chính phủ và các tổ chức doanh nghiệp hai nước, đặc biệt phía Nhật quan tâm, nhưng hiệu quả thực tế của những chính sách, biện pháp nuôi dưỡng cho tới nay vẫn là một dấu hỏi lớn.
Nếu từ mười năm trước các doanh nghiệp lắp ráp Nhật đã than phiền SI ở Việt Nam chưa phát triển, thì nay trong mắt họ tình hình vẫn vậy. Kết quả điều tra của Ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC) năm 2010 đối với các doanh nghiệp Nhật có đầu tư sản xuất ở nước ngoài, cho thấy dù đánh giá Việt Nam trong trung hạn là điểm đầu tư có triển vọng đứng thứ ba, sau Trung Quốc và Ấn Độ, nhưng chỉ chưa đầy phân nửa số công ty trả lời sẽ mở rộng quy mô đầu tư (con số này của Trung Quốc là hơn 80%). Trong đó số đông cho rằng ở Việt Nam, cả SI và hạ tầng giao thông đều kém phát triển, đó là những nhân tố chính cản trở việc biến tiềm năng thành hiện thực.
Nhìn khách quan hơn qua những khảo sát thực tế về hoạt động của SI ở Việt Nam, ở một mức độ khiêm tốn, doanh nghiệp tư nhân nội địa và doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (đặc biệt các doanh nghiệp Nhật hoặc Nhật ở nước thứ ba) ít nhiều ngấm ngầm phát triển. Theo chương trình điều tra các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam năm 1999 do Quỹ Mekong thực hiện, số doanh nghiệp tư nhân sản xuất trên cả nước mới dừng ở con số vài trăm, thì nay số doanh nghiệp tư nhân hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp chế tạo đã lên tới hàng chục ngàn (con số này ở Thái Lan khoảng vài trăm ngàn, còn ở Nhật có khoảng hơn một triệu doanh nghiệp). Số doanh nghiệp Nhật ở Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực SI từ con số không nay cũng có vài trăm doanh nghiệp. Tuy nhiên điều đáng tiếc là sự phát triển của các bộ phận doanh nghiệp này gần như tách rời với những chính sách nuôi dưỡng phát triển do chính phủ thực hiện. Doanh nghiệp tư nhân Việt Nam nói chung cũng như SI nói riêng, cho tới nay đã tham gia vào thị trường bằng sự cởi trói chứ không phải bằng sự hỗ trợ của Chính phủ. Nhiều trong số những doanh nghiệp này không biết, hoặc không quan tâm tới các chương trình hỗ trợ của Chính phủ.
Thực trạng nói trên của SI tại Việt Nam phản ánh chính sách nuôi dưỡng phát triển ngành công nghiệp này dù được “tích cực” triển khai dưới nhiều hình thức nhưng kết quả đạt được có thể nói vẫn đang “giẫm chân tại chỗ”.
“Miếng bánh” hay “quả bóng” SI?
Câu hỏi cần đặt ra ở đây là, vì sao Chính phủ Việt Nam cũng như các tổ chức hợp tác quốc tế Nhật cùng thống nhất phương châm cần thúc đẩy SI tại Việt Nam phát triển nhưng kết quả mang lại không như mong muốn? Nói một cách ngắn gọn, vấn đề cốt lõi nằm ở chỗ, dù chung một mục đích (thúc đẩy SI) nhưng tư duy của các nhà lập chính sách Việt Nam và Nhật không giống nhau. Trong khi các nhà lập chính sách Việt Nam nhấn mạnh vai trò quản lý nhà nước với những biện pháp và cơ chế mang tính xin cho trong phân phối những khoản hỗ trợ xin được đó, thì phía Nhật nhắm tới cải thiện môi trường kinh doanh và khuyến khích doanh nghiệp tự phát triển thông qua cạnh tranh công khai.
Với các nhà lập chính sách Việt Nam, vấn đề phát triển SI khi giành được quả bóng (được giao nhiệm vụ lập chính sách, triển khai) họ thường tìm cách biến quả bóng đó thành miếng bánh (bằng việc xin các nguồn hỗ trợ từ nước ngoài hoặc trong nước, và quyền phân phối những hỗ trợ cho doanh nghiệp, núp dưới chức năng quản lý nhà nước). Nhưng khi không biến được thành miếng bánh, quả bóng đó sẽ được nhả ra. Thực tế này đã khiến những hoạt động hỗ trợ của phía Nhật đối với Việt Nam trở nên vô hiệu quả.
Nhìn lại quá trình thực hiện chính sách nuôi dưỡng phát triển SI ở Việt Nam, có thể thấy, từ sau khi ký kết hiệp định đầu tư song phương Nhật - Việt (2004), chính phủ hai nước đã thống nhất vấn đề hợp tác giúp đỡ thúc đẩy phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, và công nghiệp hỗ trợ. Trên cơ sở này các tổ chức cơ quan phía Nhật, như Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật (JETRO), Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật (JICA), Ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật (JBIC), Tổ chức Hỗ trợ đào tạo kỹ thuật (AOTS), đã triển khai nhiều hoạt động hỗ trợ đa dạng, từ phát triển thị trường (tổ chức hội chợ, triển lãm), cho vay vốn lãi suất ưu đãi (quỹ cho vay hai bước), tư vấn kỹ thuật quản lý kinh doanh (với sự hỗ trợ của các chuyên gia Nhật đã nghỉ hưu), đào tạo nhân lực (tu nghiệp tại Nhật). Song, với tư cách là các chương trình hỗ trợ ký kết giữa hai chính phủ, các tổ chức Nhật không trực tiếp tiếp cận với các đối tượng cần hỗ trợ đích thực (doanh nghiệp tư nhân) mà phải triển khai gián tiếp thông qua các cơ quan, tổ chức được Chính phủ Việt Nam chỉ định, chẳng hạn như Ngân hàng Nhà nước, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công Thương, hay Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam. Sự can thiệp của các khâu trung gian này đã khiến những thông tin về các chương trình hỗ trợ của Nhật không đến được những địa chỉ cần tới.
Nhận ra sự không hiệu quả của các chương trình hỗ trợ thực hiện gián tiếp nói trên, gần đây các tổ chức Nhật (như JETRO, JICA hay AOTS) đã có những điều chỉnh, chủ động tìm kiếm các doanh nghiệp tư nhân có nhu cầu hỗ trợ để nâng cao sức cạnh tranh thực thụ. Trong những hội chợ gần đây do JETRO tổ chức đã xuất hiện bóng dáng các nhà cung cấp phụ tùng tư nhân. Tuy nhiên những thay đổi này chỉ cải thiện tình hình ở mức độ rất khiêm tốn.
Về phía Việt Nam, thời gian đầu Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã thành lập Cục Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ (năm 2002), với tư cách là cơ quan chuyên trách việc phát triển SI. Tuy nhiên, sau một thời gian hoạt động không mấy hiệu quả (phản ảnh qua lượng thông tin nghèo nàn trên website trong suốt những năm tồn tại của cơ quan này), năm 2008 cục này được hóa thân thành Cục Phát triển doanh nghiệp với mục đích hoạt động rộng hơn, nhiệm vụ chuyên trách đối với vấn đề SI thu hẹp hơn.
Quả bóng SI sau đó rơi vào Bộ Công Thương, song cách thức triển khai không khác cơ quan tiền nhiệm nhiều. Vẫn là những hội thảo, hội nghị, những chuyến khảo sát nước ngoài bằng chi phí công (tiền hỗ trợ từ các tổ chức Nhật hoặc ngân sách nhà nước) để rồi đưa ra những kiến nghị kiểu “khổ lắm biết rồi nói mãi”. Có chăng “sáng kiến” so với các đề xuất cũ là chiêu “xin quỹ đất” với lý do làm khu công nghiệp cho doanh nghiệp SI.
Hỗ trợ hạ tầng cho SI cũng như các doanh nghiệp nhỏ và vừa nội địa là một suy nghĩ hợp lý. Tuy nhiên, việc “xin quỹ đất” gắn với xin quyền quản lý quỹ đất thực chất là hành động nhằm biến “bóng” thành “bánh”.
Gần đây nhất, tháng 2-2011, Thủ tướng đã ban hành chính sách phát triển một số ngành công nghiệp hỗ trợ (kèm theo Quyết định số 12/2011/QĐ-TTg), đề cập tới sáu lĩnh vực (cơ khí, điện tử, ô tô, dệt may, giày da và công nghệ cao). Trên báo chí, nhiều ý kiến tỏ ra hồ hởi, tuy nhiên các doanh nghiệp SI khi đọc văn bản này sẽ không thể hiểu làm thế nào để có thể nhận được hỗ trợ. Quyết định đưa ra những tiêu chí, điều kiện hỗ trợ rất mơ hồ, trừ một vấn đề được nêu rõ là việc giao thẩm quyền xét duyệt hỗ trợ cho Bộ Công Thương.
Cách nghĩ và cách làm của các nhà lập chính sách Việt Nam như vậy, dù cơ quan này hay khác thực hiện, không thoát khỏi ra ngoài câu chuyện “bóng - bánh”.
Thay lời kết
Để khuyến khích, hỗ trợ SI nói riêng cũng như phát triển công nghiệp nói chung, Nhà nước giữ một vai trò không thể thiếu, đặc biệt trong bối cảnh chế độ kinh tế thị trường chưa phát triển như Việt Nam. Tuy nhiên cần phân biệt vai trò quan trọng này với lạm dụng chức năng quản lý nhà nước để can thiệp vào thị trường vì lợi ích nhóm. Chỉ khi bứt ra khỏi tư duy “bóng - bánh” này, đặt mục đích hỗ trợ là để nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp, với các điều kiện khuyến khích rõ ràng, cơ chế thẩm định công bằng minh bạch, thì chính sách nuôi dưỡng mới lấy được niềm tin của các doanh nghiệp và phát huy hiệu quả.
“Có thể khẳng định rằng kết quả thu hút FDI trong tháng 1/2012 không phản ánh đúng về thực trạng và triển vọng thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong năm nay”, Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) vừa thông tin đến báo chí.
Tháng 1/2012, chỉ số sản xuất công nghiệp giảm 2,4% so với cùng kỳ; kim ngạch xuất khẩu tương ứng chỉ bằng khoảng 88,9% và nhập khẩu là 81,3%; thu hút FDI bằng 2,5%...
5 cái "nhất" là "đặc trưng" của kinh tế Việt Nam đó là: Lạm phát cao nhất, lãi suất cao nhất, thâm hụt thương mại cao nhất, đồng nội tệ yếu nhất, dòng vốn lệ thuộc nhiều nhất vào dòng vốn bên ngoài. Nhận định của tiến sĩ Antonio Emilio của Viện REIT, Philippines.
Hiện nay việc đầu tư bảo vệ bờ biển, cửa sông là lãi nhất. Không phải một vốn bốn lời mà… 100 lời. Bởi nếu chúng ta không quan tâm đến lĩnh vực này ngay từ bây giờ thì đến đời con của chúng ta phải trả giá rất đắt.
Mục tiêu thu phí lưu thông nhằm hạn chế sử dụng xe cá nhân, chống ùn tắc giao thông sẽ rất ít khả thi, thậm chí còn gây hiệu ứng ngược. Ông Thái Bá Minh - một chuyên gia về phát triển ô tô xe máy lo ngại, liệu chính sách đưa ra có làm tăng thêm bức xúc trong xã hội.
Nhiều chuyên gia cho rằng cần phải hy sinh tăng trưởng để chống lạm phát nhưng dường như họ đã quên rằng tăng trưởng cũng là một phần quan trọng của ổn định vĩ mô, miễn là tăng trưởng đúng với khả năng của mình.
Cộng đồng doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam đã tỏ ra bớt bi quan hơn về triển vọng của nền kinh tế Việt Nam, theo kết quả của cuộc khảo sát lần thứ sáu về chỉ số kinh doanh của các doanh nghiệp châu Âu do Phòng Thương mại Châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) thực hiện vào tháng 1/2012.
Cộng đồng doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam đã tỏ ra bớt bi quan hơn về triển vọng của nền kinh tế Việt Nam, theo kết quả của cuộc khảo sát lần thứ sáu về chỉ số kinh doanh của các doanh nghiệp châu Âu do Phòng Thương mại Châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) thực hiện vào tháng 1/2012.
Việc tự phong thành các Tập đoàn kinh tế tư nhân, việc nâng cấp các tổng công ty Nhà nước với mô hình "Công ty mẹ - Công ty con" thành các Tập đoàn kinh tế đã và đang diễn ra ở nước ta. Song một loạt sự đổ vỡ, hoạt động kém hiểu quả của các tập đoàn kinh tế ở nước ta của cả khối nhà nước và tư nhân trong thời gian qua cho thấy còn qua nhiều điều đáng đáng để bàn.
Khối Nghiên cứu Kinh tế của Ngân hàng HSBC (HSBC Global Research) vừa công bố bản báo cáo về Kinh tế Vĩ mô Châu Á quý I/2012 (Macro Asian Economics), theo đó, mặc cho tình hình tăng trưởng kinh tế toàn cầu trì trệ và những điều kiện khó khăn trong nước, đà tăng trưởng của Việt Nam vẫn đạt con số khá ấn tượng.
Trong niềm kỳ vọng về sự phát triển của đất nước, chúng ta đã có chiến lược phát triển kinh tế biển nhằm hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam thành cường quốc biển. Đó là một kỳ vọng tốt đẹp. Tuy nhiên, với tinh thần “ôn cố tri tân”, bài viết này sẽ sơ bộ tìm hiểu tại sao Việt Nam, dù nằm ngay sát biển và gần với một trong những tuyến đường biển nhộn nhịp nhất trên thế giới, lại đã không thể trở thành cường quốc biển.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.