Trong giờ thực hành bài học của học sinhTrường cao đẳng Kỹ thuật Cao ThắngTP Hồ Chí Minh. Ảnh: Tất Cường
Phát triển bền vững là yêu cầu cấp thiết đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường ở nước ta đi vào CNH và hội nhập toàn cầu. Vượt qua mức thu nhập trung bình để vươn tới nước phát triển đòi hỏi chúng ta phải có chiến lược phát triển dựa vào nguồn lực con người. Ðây là nhân tố quyết định nhất đối với quá trình CNH, HÐH đất nước và bảo đảm cho sự phát triển nhanh, bền vững.
Trọng dụng nhân tài
Kinh nghiệm quốc tế và những nghiên cứu khoa học cho thấy, các quốc gia phát triển nhanh và bền vững đều có chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và chính sách sử dụng nhân tài. Việt Nam muốn tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững cũng cần phải có những chính sách đúng đắn để tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao và trọng dụng nhân tài có hiệu quả.
Một thực tế rất đáng suy ngẫm là nguồn nhân lực của nước ta trong nhiều năm qua không đáp ứng yêu cầu của những ngành kinh tế kỹ thuật mới, trong khi nhiều học sinh, sinh viên Việt Nam đoạt giải cao ở các kỳ thi quốc tế. Có thể nêu một số thí dụ: Hãng Intel của Mỹ vào Việt Nam đầu tư có tổ chức thi tuyển dụng nhân viên công nghệ thông tin, trong số 2.000 ứng viên dự thi để vào làm việc cho cơ sở sản xuất của hãng tại TP Hồ Chí Minh thì chỉ có 90 người tức 5% đạt chuẩn chuyên môn, trong đó chỉ có 40 người đủ trình độ tiếng Anh để tuyển dụng, kết quả cuối cùng là chỉ có 2% được tuyển dụng. Hoặc như Hãng Renesas chuyên thiết kế và sản xuất vi mạch hàng đầu của Nhật Bản đầu tư vào TP Hồ Chí Minh muốn tuyển 500 kỹ sư cho giai đoạn đầu hoạt động của hãng, vậy mà hai năm liền 2007 và 2008 chỉ tuyển được có 60 người... Ngay như một số dự án và công trình xây dựng trên khắp đất nước ta cũng phải thuê nhân lực quốc tế. Những việc nêu trên cảnh báo cho chúng ta một vấn đề về những bất cập của hệ thống giáo dục, nhất là giáo dục ở bậc đại học và dạy nghề. Chiều hướng phát triển giáo dục, đào tạo trong những thập niên vừa qua đã không thể đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước khi đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa mặc dù đầu tư của Nhà nước và của nhân dân rất lớn. Chúng ta cần phải đổi mới một cách căn bản tư duy và cải cách giáo dục, đào tạo theo hướng phải thật sự coi trọng đào tạo tư duy sáng tạo, đào tạo kỹ năng và đào tạo chuyên môn nghề nghiệp.
Theo đó, giáo dục đại học cần thiết chuyển hướng sang đào tạo nhân lực có trình độ và kỹ năng làm việc đáp ứng yêu cầu thực tiễn phát triển của đất nước trong dài hạn mà thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa và phát triển kinh tế trí thức yêu cầu. Cơ chế giáo dục đại học và trên đại học cần thiết phải tạo ra được các cộng đồng sinh viên được tổ chức sao cho trên cái nền kiến thức giáo dục cơ bản thật sự khuyến khích tính linh hoạt và sáng tạo của sinh viên, nghiên cứu sinh; tạo ra cho mỗi chủ thể sinh viên một môi trường học tập, nghiên cứu mà họ có thể tự đào tạo, tự vươn lên phù hợp với những biến đổi của xã hội luôn thay đổi trong điều kiện khoa học, kinh tế, kỹ thuật, công nghệ thay đổi nhanh chóng ở thế kỷ 21. Muốn vậy cần phải thay đổi cách dạy trong các cơ sở đào tạo đại học. Dạy ở bậc đại học và trên đại học không chỉ là truyền đạt những gì đã biết mà quan trọng hơn là dạy cho sinh viên, nghiên cứu sinh cách duy trì việc cập nhật kiến thức, phương pháp tư duy, cách xử lý các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn... để họ có thể biết cách làm mới kỹ năng làm việc của mình để thích ứng với môi trường, điều kiện luôn thay đổi.
Hiện nay, nước ta hội nhập ngày càng sâu rộng vào kinh tế, chính trị toàn cầu. Nhu cầu về nhân lực ngày càng lớn, do đó giáo dục đại học của nước ta phải làm sao nhanh chóng đáp ứng yêu cầu này. Ngoài những kỹ năng chuyên môn cấp thiết phải tăng số lượng và trình độ ngoại ngữ. Ðây quả thật là một thách thức lớn đối với giáo dục của nước ta. Cùng với việc xây dựng các trung tâm đào tạo có chất lượng quốc tế, cần thiết có những chính sách để đưa nhiều sinh viên học tập ở nước ngoài, có chiến lược và những cơ chế, chính sách trọng dụng nhân tài, kể cả các nhân tài quốc tế đến làm việc, cống hiến cho đất nước Việt Nam.
Dạy nghề đáp ứng nhu cầu phát triển
Ðể đất nước phát triển nhanh và bền vững, Ðảng và Nhà nước ta đã xây dựng và triển khai nhiều chương trình, chiến lược kinh tế - xã hội, các chính sách an sinh xã hội, bảo vệ môi trường. Ðặc biệt đầu tư rất lớn cho giáo dục, đào tạo để phát triển nguồn nhân lực. Trong điều kiện toàn cầu hóa và kinh tế thế giới cạnh tranh quyết liệt thì như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhận định: Nguồn lực con người là lợi thế cạnh tranh dài hạn, là yếu tố quyết định sự phát triển của quốc gia... Do đó cần phải tập trung sức phát triển giáo dục và đào tạo, nhất là đào tạo đại học và dạy nghề để có nguồn nhân lực chất lượng cao, cơ cấu hợp lý nhằm đẩy nhanh quá trình tái cấu trúc nền kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng.
Như vậy, việc tái cấu trúc nền kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng, trước hết là nâng cấp cơ cấu công nghiệp, chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo chiều sâu nhằm sản xuất ra những sản phẩm và dịch vụ có giá trị gia tăng cao hơn, nhanh chóng thích nghi với những công nghệ mới và phương pháp quản lý hiện đại đòi hỏi phải có một hệ thống giáo dục dạy nghề hiệu quả hơn và rộng lớn hơn. Nhu cầu về nguồn nhân lực được đào tạo nghề ngày càng trở nên cấp thiết song giáo dục dạy nghề lại chưa đáp ứng cả về số lượng và kỹ năng nghề nghiệp.
Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam chỉ đạt 3,79 trên thang điểm 10, xếp hạng thứ 11 trong 12 quốc gia được khảo sát tại khu vực châu Á. Ở Việt Nam chưa có trường dạy nghề nào được định chuẩn là đáp ứng tiêu chuẩn quốc gia và khu vực. Một số doanh nghiệp Việt Nam đã phải thuê lao động có kỹ năng từ nước ngoài... Tuy vậy, điều ghi nhận những cố gắng của đào tạo nghề ở nước ta là quy mô đào tạo nghề tăng khá nhanh. Trong vòng 10 năm từ 1998 đến 2008, tỷ lệ sinh viên theo học tại các trường trung học và cao đẳng, đại học dạy nghề đã tăng gấp bốn lần. Năm 2009 đạt con số 1,7 triệu người và năm 2010 có tới gần một nửa số quận, huyện trong cả nước có ít nhất một trung tâm đào tạo nghề. Từ năm 1997, tỷ lệ công nhân được đào tạo nghề tăng từ 10% lên 30%.
Hạn chế chính của đào tạo nghề ở nước ta trong thời gian qua là thiếu một đội ngũ giáo viên giỏi và sự quản lý công tác dạy nghề yếu kém, chưa thống nhất vào một ngành mà phân tán, mạnh ai nấy làm đã làm cho chất lượng dạy và cơ sở vật chất dành cho giảng dạy xuống cấp. Vấn đề quan trọng hàng đầu đối với dạy nghề cho nguồn nhân lực của nước ta là kỹ năng và kiến thức nghề. Ðể đạt được những yêu cầu ấy người được đào tạo nghề phải trải nghiệm trong công việc (học trong công việc và làm việc) và kiến thức từ quá trình đào tạo chính thức. Theo đó các trung tâm dạy nghề cần phải cung cấp cho người học nghề cả việc học nghề thực hành và hướng dẫn lý thuyết. Chính vì vậy sự hợp tác giữa các trường, trung tâm dạy nghề với các công ty, doanh nghiệp là yêu cầu thường xuyên. Chỉ thông qua việc hợp tác này mới có thể tạo ra nguồn nhân lực được đào tạo với nghề nghiệp thích ứng yêu cầu sản xuất, kinh doanh, gắn kết được nhu cầu của thực tiễn với đào tạo nghề của các trường và các cơ sở dạy nghề.
Ðộng lực lớn và điều kiện thuận lợi cho công tác dạy nghề hiện tại là thực hiện công nghiệp hóa nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới theo chính sách tam nông của Ðảng. Chương trình đào tạo nghề cho nhân lực ở nông thôn đang được triển khai với mục tiêu mỗi năm đào tạo một triệu nhân công nông thôn bao gồm cả các viên chức làm việc ở khu vực nông thôn. Sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ và các cấp, ngành hữu quan yêu cầu mỗi quận, huyện và cấp xã phải có một cán bộ chuyên trách chịu trách nhiệm về giáo dục dạy nghề và dạy nghề miễn phí cho thanh niên có hoàn cảnh khó khăn mà sẵn sàng đi làm việc ở nước ngoài đã tạo ra những điều kiện tốt cho công tác đào tạo nghề ở nông thôn. Ðể chương trình đào tạo nghề ở nông thôn thật sự hiệu quả, thiết nghĩ các chương trình đào tạo nghề nên coi trọng dạy nghề nông hơn nữa. Nên khuyến khích các chương trình đào tạo nghề, tạo việc làm tại những khu vực nông thôn thông qua sự đa dạng hóa ngành, nghề và cách thức tổ chức lao động, quản lý của doanh nghiệp gắn liền với đặc điểm của địa phương và nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội tại địa bàn.
Với lợi thế về cơ cấu dân số trẻ, chỉ số phát triển người cao, nguồn nhân lực dồi dào có học vấn và được đào tạo kỹ năng nghề nghiệp, trình độ chuyên môn, chúng ta có cơ sở để đất nước phát triển nhanh và bền vững.
Đồ án quy hoạch xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 chưa đạt yêu cầu, Hội Kiến trúc sư Việt Nam tỏ rõ quan điểm tại văn bản góp ý chính thức được gửi tới Văn phòng Trung ương Đảng ngày 26/8.
Thủ tướng mong muốn, các địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long liên kết với nhau chặt chẽ hơn, huy động cao nhất các nguồn lực bên trong và bên ngoài, phát triển một cách bền vững.
“65 năm qua, từ chỗ bị bao vây cô lập, quan hệ đối ngoại của Việt Nam được mở rộng chưa từng có, ngày càng đi vào chiều sâu, góp phần quan trọng vào sự nghiệp cách mạng và thúc đẩy phát triển thương mại, đầu tư”.
Còn khá nhiều dư địa cho nỗ lực tạo ra môi trường kinh doanh thông thoáng, tiết kiệm hơn, một khi tiếp tục nâng cao tính minh bạch của hệ thống chính sách điều tiết hoạt động kinh doanh, nhất là cơ quan quản lý "rộng cửa" hơn cho cộng đồng DN tiếp cận thông tin của nhà quản lý.
Cả nước đã có trên 1,537 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (TECHCĐB), chiếm khoảng 1,79% dân số và khoảng 6% dân số trong độ tuổi trẻ em. Trước thực tế này, Bộ Lao động–Thương binh và Xã hội chủ trương xây dựng và nhân rộng các mô hình trợ giúp TECHCĐB dựa vào cộng đồng.
Hàng chục dự án thủy điện lớn, vừa và nhỏ đang được triển khai tại miền Trung đã tạo nên nguồn điện rất lớn, hỗ trợ phát triển kinh tế đất nước và trực tiếp mang lại cơ hội phát triển cho khu vực này.
Với phương châm hoạt động vì người nghèo, tạo điều kiện cho họ tiếp cận với kênh tín dụng ưu đãi của Nhà nước. Bảy năm qua, những chương trình của Ngân hàng Chính sách Xã hội Gia Lai đã tiếp thêm sức cho các hộ gia đình trên địa bàn từng bước xóa đói giảm nghèo, ổn định cuộc sống.
Trên thế giới, đến nay không nhiều quốc gia mà Thủ đô có bề dày lịch sử nghìn năm như Thăng Long - Hà Nội. Gần như liên tục, mười thế kỷ, Thăng Long - Hà Nội là kinh đô - thủ đô, trung tâm chính trị, hành chính của đất nước. Thời gian ấy, vai trò ấy khiến Thăng Long - Hà Nội, như một lẽ tự nhiên, thật sự trở thành trái tim của Việt Nam.
Đó là khẳng định của ông Lê Tuấn, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Đầu tư phát triển không gian ngầm (IUS) – chủ đầu tư Dự án Bãi đậu xe ngầm Công viên Lê Văn Tám (quận 1, TP.HCM) tại buổi làm việc giữa công ty này với báo giới vào giữa tuần này.
Với hi vọng chấm dứt sự phát triển manh mún đồng thời thiết lập quy trình sản xuất – tiêu thụ rau an toàn khép kín và đảm bảo tiêu chí kỹ thuật, an toàn.
Nếu như cách đây vài năm, hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D - cụm từ thường được dùng trong hoạt động quản trị doanh nghiệp) vẫn còn rất xa lạ với các doanh nghiệp (DN) Việt Nam thì thời gian gần đây, các DN sản xuất, cung ứng dịch vụ đã bắt đầu chú trọng đến hoạt động này nhằm có thể đưa ra các sản phẩm, dịch vụ mới đáp ứng nhu cầu thị trường và thực hiện chiến lược phát triển của DN.
Mất 217 giờ và 2.910 USD để vận chuyển 30 tấn hàng từ Bangkok (Thái Lan) đến Hà Nội bằng đường biển, 74 giờ và 5.500 USD bằng đường bộ, 29 giờ và 69.940 USD bằng đường không.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.