Ngày 2-6, Đồ án quy hoạch chung xây dựng thủ đô Hà Nội đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2050 đã được trình lên Quốc hội.
Bộ trưởng Bộ xây dựng Nguyễn Hồng Quân, thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, đã trình bày Báo cáo của Chính phủ về Đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Trên cơ sở Tờ trình Chính phủ, Ủy ban kinh tế Quốc hội đã có ý kiến về Đồ án này.
Nghiên cứu, tiếp thu những ý kiến xác đáng của Thành phố Hà Nội
Theo đánh giá của Ủy ban Kinh tế Quốc hội, đồ án quy hoạch chung xây dựng thủ đô Hà Nội đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2050 có nội dung, ý tưởng, định hướng chiến lược quy hoạch khá rõ. Tuy nhiên, do thời gian xây dựng đồ án ngắn nên UBKT đề nghị, một mặt cần tiếp tục tổ chức tốt việc tiếp thu các ý kiến đóng góp để hoàn thiện Đồ án, mặt khác cần tiếp tục đánh giá sâu hơn nữa thực trạng công tác quy hoạch và tình hình thực hiện các quy hoạch đã có, thực trạng kinh tế - xã hội ở các vùng nông thôn của Hà Nội, Hà Tây cũ và các địa giới trước khi sáp nhập, thực trạng môi trường và một số nội dung liên quan khác để có thêm cơ sở vững chắc cho các định hướng quy hoạch.
Về định hướng giữ gìn và phát huy bản sắc Thủ đô Hà Nội được thể hiện trong dự án chiến lược Tăng cường bản sắc, hình ảnh riêng về Thành phố, thiết lập các trục không gian “mặt nước”, “cây xanh” và “văn hoá” thuộc Đồ án quy hoạch, ý kiến chung trong Ủy ban Kinh tế còn băn khoăn về định hướng giữ gìn các phố cổ Hà Nội và phát triển các khu đô thị mới có bảo đảm vừa bảo tồn bản sắc của Hà Nội cổ cũng như những nét đặc trưng của Thủ đô văn hiến với phát triển các đô thị hiện đại hay không? Đồ án cần làm rõ và cụ thể hơn nữa “tính Hà Nội”, những nét bản sắc riêng của Thủ đô so với các tỉnh, thành khác và các thủ đô của các nước và làm nổi bật định hướng bảo tồn bản sắc các vùng, khu vực trong Thủ đô (khu vực Thăng Long cổ, vùng phía Tây của Hà Nội...).
Với dự kiến Tổng vốn đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật từ 2010 đến 2050 khoảng 90 tỷ USD, trong đó khung hạ tầng chiếm từ 40% đến 50% tổng vốn, Ủy ban Kinh tế đề nghị cần tính toán kỹ hơn để đáp ứng sự phù hợp của nhu cầu vốn đầu tư cho hạ tầng để thực hiện Đồ án với tốc độ tăng trưởng kinh tế của Thủ đô trong các giai đoạn của quy hoạch, đặt nhu cầu vốn đầu tư cho hạ tầng để thực hiện Đồ án trong tổng thể cân đối vốn đầu tư của toàn quốc cho các dự án, công trình khác (như phát triển điện hạt nhân, đường sắt cao tốc Hà Nội-Thành phố Hồ Chí Minh...).
Ủy ban Kinh tế cũng đề nghị Chính phủ cần bảo đảm đúng quy định của Luật quy hoạch đô thị về việc công bố lấy ý kiến các tầng lớp nhân dân để hoàn thiện và để tổ chức thực hiện Đồ án. Mặt khác, cần nghiên cứu biện pháp, hình thức tuyên truyền, phổ biến, giải thích những định hướng của Đồ án để cơ quan, tổ chức và nhân dân nhận thức đúng, qua đó tránh được sự xáo trộn về tâm lý của nhân dân, tránh lợi dụng, tạo đột biến về giá đất, về thị trường bất động sản. Đặc biệt, cần đề phòng những tác động không đúng đắn của các nhóm lợi ích làm sai các định hướng của Đồ án
Ngoài ra, Ủy ban Kinh tế đề nghị, tuy Bộ Xây dựng được giao nhiệm vụ xây dựng đồ án nhưng cần hết sức lưu ý nghiên cứu, tiếp thu những ý kiến xác đáng của Thành phố Hà Nội vì Chính quyền và nhân dân Thủ đô Hà Nội là những người tổ chức thực hiện chính; đồng thời đề cao vai trò của Thành phố trong giai đoạn tiếp tục hoàn chỉnh Đồ án quy hoạch.
Làm rõ cơ sở quy hoạch Trung tâm hành chính quốc gia về Ba Vì
Góp ý về một số vấn đề cụ thể, Uỷ ban Kinh tế tán thành với định hướng không gian đô thị của đồ án. Việc hình thành khu đô thị trung tâm và các khu đô thị vệ tinh được liên kết với nhau bởi các trục hướng tâm là phù hợp. Nhưng cũng có ý kiến đề nghị làm rõ những động lực chính thúc đẩy sự phát triển của các khu đô thị vệ tinh, từ đó cân nhắc lại quy mô dân số ở các đô thị vệ tinh, các khu đô thị mới liên quan đến cơ cấu lao động đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế ở các khu vực…
Về Trung tâm hành chính quốc gia mới, nhiều ý kiến cho rằng, với quy mô Thủ đô vào năm 2030, 2050, không thể để trung tâm hành chính như hiện nay (thực tế chưa có trung tâm hành chính quốc gia theo đúng nghĩa, các cơ quan nhà nước được đặt tại nhiều địa điểm phân tán); phải có một trung tâm hành chính quốc gia tương xứng. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng, nếu đặt Trung tâm hành chính ở Ba Vì thì không phù hợp cả về mặt yếu tố lịch sử, văn hóa và quốc phòng an ninh, cần nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước lập tách riêng khu vực hành chính có hiệu quả không? Cần làm rõ cơ sở quy hoạch Trung tâm hành chính quốc gia về Ba Vì, trong khi Trung tâm chính trị vẫn ở khu Ba Đình.
Ý kiến khác đề nghị không nên tách biệt Trung tâm hành chính quốc gia khỏi Trung tâm chính trị vì cho rằng chỉ có một Trung tâm hành chính và chính trị quốc gia. Hơn nữa, Đồ án chưa thể hiện rõ nét, kể cả bằng lời sự gắn kết giữa Trung tâm hành chính và Trung tâm chính trị hiện nay.
Về Trục Thăng Long, Ủy ban Kinh tế nhận thấy, đây là một điểm nhấn quan trọng trong Đồ án quy hoạch, sẽ là một trục phát triển trung tâm của Hà Nội sau này, đặc biệt , trục này sẽ phát huy giá trị hơn khi đã hình thành Trung tâm hành chính Quốc gia, do đó cần làm rõ ý nghĩa và sự cần thiết xây dựng Trục Thăng Long, nhất là cần đặt trong quy hoạch các trục giao thông chính song song và gần với Trục Thăng Long, diện tích đất nông nghiệp (đất trồng lúa) cần thu hồi để làm đường. Hiện đã có khá nhiều trục song song với trục này (trong đó, chỉ cách Trục 4 km có đường cao tốc Láng- Hòa Lạc); các hướng phát triển của công nghiệp về phía điểm cuối của Trục Thăng Long chưa tương xứng với Trục về hiệu quả kinh tế.
Đối với các trục không gian Bắc-Nam (có trục Quốc lộ 3, trục Quốc lộ 1A, Quốc lộ 1 mới, trục Nhật Tân- Nội Bài...), đồ án mới chỉ thể hiện bố trí các cụm công trình phục vụ công cộng, văn phòng... chủ yếu là tạo điểm nhấn đô thị:. Do đó, một số ý kiến cho rằng, để bảo đảm cân đối, cả về hướng tuyến và vùng, gắn kết với các địa phương phía Bắc, thu hút sự phát triển lan tỏa của các tuyến giao thông cao tốc phía Bắc, cần nghiên cứu xem xét thêm việc bố trí trục không gian này để không tạo ra sự mất cân đối trong phát triển với trục Thăng Long,
Uỷ ban Kinh tế cũng đề nghị cần làm rõ yêu cầu phòng chống lũ cho Thủ đô để xác định diện tích cần thiết cho các vùng thoát lũ, chậm lũ, bụng chứa lũ có đủ khả năng thoát lũ. Cần nghiên cứu và tính toán kỹ việc thoát lũ của Thủ đô khi phát triển hệ thống đường vành đai, các đô thị theo các trục giao thông, tránh tình trạng các trục giao thông và các vành đai trở thành vật cản tốc độ thoát lũ.
Đánh giá về quy hoạch giao thông, Uỷ ban Kinh tế cho rằng, định hướng phát triển giao thông của Đồ án nhìn chung bảo đảm tính hiện đại, sự đồng bộ giữa các loại hình: đường sắt, đường bộ, đường hàng không, đường thủy, trong đó nổi bật là xe buýt nhanh, đường sắt đô thị; tổ chức giao thông vành đai kết hợp với giao thông hướng tâm; kết nối giữa đô thị vệ tinh và trung tâm thành phố. Tuy nhiên cần kế thừa chọn lọc hệ thống giao thông đã có và đang được triển khai xây dựng, hoặc được cấp giấy phép xây dựng, tính đến cả giao thông hiện có để quy hoạch mạng lưới giao thông mới, đặc biệt là đối với Trục Thăng Long. Ngoài ra, cần giải trình rõ thêm về điểm đặt ga đầu mối của tuyến đường sắt cao tốc Hà Nội - Thành phố Hồ Chí Minh đã phù hợp với yêu cầu ở trung tâm Thủ đô chưa.
Về định hướng phát triển khu vực nông thôn, theo Uỷ ban Kinh tế, đồ án cần có đánh giá kỹ về đặc điểm hiện trạng nông thôn ở Hà Nội để có định hướng phát triển khu vực nông thôn mới trong đô thị đặc biệt, nhất là về mô hình nông thôn mới; định hướng chuyển đổi sản xuất nông nghiệp trong lòng Thủ đô; phát triển quỹ đất ở cho khu vực nông thôn; định hướng giải quyết đất sản xuất, hình thành các khu sản xuất tập trung tại các làng nghề; định hướng giải quyết các vấn đề môi trường ở nông thôn.
Uỷ ban Kinh tế cũng đưa ra một số vấn đề khác mà đồ án cần được tiếp tục nghiên cứu, hoàn chỉnh như: hành lang xanh, định hướng phát triển công nghiệp, giáo dục đào tạo, y tế, quy hoạch hai bên bờ sông Hồng…
Không chỉ dừng ở sự quan tâm, mà đã có sự hối thúc rõ ràng từ cộng đồng doanh nghiệp và các nhà tài trợ về hoàn thiện khung pháp lý cho việc triển khai mô hình hợp tác công - tư (PPP) trong phát triển cơ sở hạ tầng ở Việt Nam.
Vẫn là những rào cản cũ, những phàn nàn lâu nay về các nút thắt của môi trường kinh doanh Việt Nam được đại diện các doanh nghiệp nhắc lại trong Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam (VBF) trước thềm Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ (CG) giữa kỳ năm 2010 vừa diễn ra giữa tuần.
Nhiều ý kiến cho rằng, những quy định trong Dự thảo Luật Thuế bảo vệ môi trường (BVMT) có thể sẽ tác động không nhỏ tới hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Trải qua nhiều năm, cuối cùng thì Chính phủ cũng cam kết sớm ban hành Quyết định thí điểm cơ chế hợp tác giữ nhà nước và tư nhân (PPP) vào tháng 9 tới. Liệu khuôn khổ pháp lý được trông chờ này có được ban hành đúng như dự kiến?
Khoảng cách giàu - nghèo không phải chỉ là một chỉ tiêu kinh tế. Nó còn phản ánh sự gắn kết xã hội và là một thể hiện của sự bình đẳng trong xã hội. Khoảng cách giàu - nghèo ắt sẽ nảy sinh. Nhưng sự bền vững của phát triển ở tất cả các nước, và hơn thế nữa định hướng xã hội chủ nghĩa, không chấp nhận khoảng cách giàu - nghèo đi vào phân cực quá một ngưỡng cho phép.
Tại diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam, một hoạt động được tổ chức trước thềm Hội nghị giữa kỳ nhóm Tư vấn các nhà tài trợ 2010 do tổ chức Tài chính quốc tế (IFC) - thành viên thuộc nhóm ngân hàng Thế giới và Bộ Kế hoạch - Đầu tư phối hợp tổ chức tại Hà Nội ngày 26/5, nhiều đại biểu cho rằng để Việt Nam nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế thì Chính phủ cần quan tâm hơn nữa đến 3 vấn đề.
Ngày 5-8-2008, Nghị quyết số 26-NQ/T.Ư của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành T.Ư khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn được ban hành. Sau 20 năm đổi mới, đây là lần đầu Ðảng ta có một nghị quyết toàn diện nhất về nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong điều kiện kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế.
Không đủ nhân lực, nhưng ngành điện Bà Rịa –Vũng Tàu không chịu thuê các đơn vị có chức năng thực hiện một số hạng mục thi công, nhằm giảm bớt áp lực công việc; Bảo đảm tiến độ công trình, cấp điện phục vụ nhu cầu cấp thiết của người dân các vùng “khát điện” từ nhiều năm qua.
Làm cách nào để Việt Nam vừa có thể giải quyết được những sức ép ngắn hạn, vừa đảm bảo phát triển dài hạn? Đó là bài toán mà các chuyên gia UNDP đưa ra cho Việt Nam trong Điều tra kinh tế - xã hội khu vực châu Á – Thái Bình Dương 2010.
Trong đơn kiến nghị ngày 15/5/2010 gửi Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan liên quan, các cơ quan báo chí, một loạt DN đồng loạt kiến nghị ba nội dung. Theo đó, tất cả đều khẳng định Bộ Tài chính đã thiếu nhất quán trong ban hành chính sách thuế, Tổng cục Hải quan thì thiếu nhất quán trong thực hiện chính sách thuế.
Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới vừa qua đến nền kinh tế nước ta đã cho thấy một bài học: Tăng trưởng kinh tế bền vững là giải pháp "tự vệ" hiệu quả nhất, đồng thời hạn chế được những bất ổn đối với nền kinh tế nước nhà.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.