Trong khủng hoảng, những khiếm khuyết của thị trường đã làm cho tư duy "Nhà nước cần can thiệp mạnh vào thị trường" trở nên thắng thế.
Khi nền kinh tế Việt Nam bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu bất ổn vĩ mô vào đầu năm 2008, một số chuyên gia kinh tế nguyên là thành viên Ban nghiên cứu Thủ tướng bày tỏ lo ngại cái giá mất mát từ phương châm điều hành có thể là cực lớn.
Gánh nặng từ quy định
Nỗi lo ngại này xuất phát từ những kinh nghiệm ám ảnh gắn với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung mà Việt Nam đã cố gắng rũ bỏ khi tiến hành đổi mới cách đây gần ba thập kỷ. Cho đến gần đây, nhận định này đáng để suy nghĩ lại, khi đang có rất nhiều nỗ lực để đưa nền kinh tế ra khỏi quỹ đạo của lạm phát và bất ổn kinh tế vĩ mô. Luật sư Trần Hữu Huỳnh của VCCI tỏ ra lo lắng: "Đang có một nghịch lý, càng chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì mức độ can thiệp của nhà nước vào thị trường càng cao". Chuyên gia của Dự án Sáng kiến cạnh tranh (VNCI) Scott Jacobs nhận xét: "Số lượng văn bản càng ngày càng tăng. Việt Nam đang phải gánh chịu nhiều quy định tốn kém, phi thị trường". Khi đoàn doanh nghiệp Mỹ hùng hậu nhất đến Việt Nam vào đầu tháng Chín năm ngoái, họ đã gặp lãnh đạo của Ủy ban Kinh tế Quốc hội để bày tỏ quan tâm về dự thảo Luật Quản lý Giá sắp được xem xét bởi lo ngại dự thảo sẽ có tác động phụ có hại khôn lường cho môi trường kinh doanh. Sau đó một tháng, trong cuộc gặp mặt giữa Chính phủ và các nhà tài trợ tổ chức ở Bộ Kế hoạch và Đầu tư về điều hành kinh tế vĩ mô, đại diện Phái đoàn Ủy ban châu Âu thậm chí hỏi thẳng: liệu Việt Nam có còn theo đuổi mô hình kinh tế thị trường hay không khi áp dụng nhiều biện pháp hành chính như vậy!?
Bàn tay của Nhà nước
Bất chấp những thực tế đó, trong nhiều trường hợp, sự can thiệp của cơ quan nhà nước vào thị trường lại nhận được sự ủng hộ của số đông.
Trong số 900 người được điều tra, 68% ủng hộ sự can thiệp của Nhà nước để bình ổn giá cả.
Chẳng hạn, khi Bộ trưởng Tài chính Vương Đình Huệ đưa ra những thông điệp mạnh mẽ nhằm can thiệp thị trường xăng dầu, ông đã được sự cổ vũ nhiều chưa từng có từ phía người dân. Ông Huệ giải thích về phương châm: "Sự sụp đổ của các định chế tài chính ở Mỹ gây hệ lụy đến giờ là thất bại thảm hại của mô hình kinh tế hoàn toàn tự do. Một tổng thống nước Tây Âu còn nói, đó là sự phá sản của mô hình kinh tế tự do. Các chính phủ bây giờ phải tăng cường kiểm soát…, chứ không phải chỉ có Việt Nam là có bàn tay hữu hình lên thị trường". "Trong tình huống cấp bách, Nhà nước có quyền dùng mọi biện pháp… Chúng ta muốn có cơ chế thị trường, phải có thị t ường cạnh tranh trước đã", ông nói. Lời giải thích cô đọng của Bộ trưởng, xét về nhiều khía cạnh, rất phù hợp với thị trường xăng dầu, nơi các doanh nghiệp nhà nước đang thống trị, với gần 60% thị phần thuộc về Petrolimex. Câu chuyện này có thể xem là một điển hình đầy tương phản giữa nhà nước và thị trường. Song, thật đáng tiếc, nó phản ánh sự can thiệp gia tăng của nhà nước trong khi thiếu đi các hành động cần thiết nhằm thị trường hóa lĩnh vực phân phối xăng dầu.
Một câu chuyện khác liên quan đến đầu tư công trong suốt những năm gần đây vốn được tài trợ bằng chính sách tài khóa mở rộng với bội chi và thâm hụt ngân sách dai dẳng.
Thống kê sơ bộ
của Dự án Sáng kiến cạnh tranh Việt Nam (VNCI) kết hợp với Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) cho thấy: Từ 2005 - 2008, Việt Nam đã ban hành 17.169 văn bản pháp luật, một con số lớn hơn cả số văn bản pháp luật (14.641) được ban hành trong 18 năm trước đó. Chỉ tính riêng cấp trung ương, số văn bản pháp luật tăng đột biến lên 8.520 vào năm 2009. Số lượng văn bản quy phạm tiếp tục tăng lên trong hai năm gần đây.
Nhà nước đã có mặt ở hầu hết các công trình xây dựng hạ tầng, trong khi không khuyến khích được giới đầu tư tư nhân bỏ vốn vào làm ăn. Hệ quả của đầu tư công mở rộng mà thiếu hiệu quả trong dài hạn, như nhiều chuyên gia đã tổng kết, là một trong những nguyên nhân làm nền kinh tế quanh quẩn mãi trong vòng xoáy bất ổn vĩ mô những năm qua. Song, bất chấp những khuyến nghị về việc Nhà nước cần kiên quyết ngừng triển khai các dự án, công trình đầu tư công ít hiệu quả từ các chuyên gia hàng đầu Việt Nam - những người từng có nỗ lực đặc biệt cổ vũ cho việc tạo ra một môi trường kinh doanh bình đẳng - tâm lý xã hội nói chung dường như vẫn muốn được bao cấp.
Một nghiên cứu do Ngân hàng Thế giới và VCCI tiến hành với gần 900 người nằm trong Báo cáo Phát triển Việt Nam 2012 cho thấy, có tới 68% trả lời ủng hộ sự can thiệp của Nhà nước để bình ổn giá các mặt hàng thiết yếu, so với 29% muốn giá cả các mặt hàng này được các lực lượng thị trường quyết định. Đáng chú ý là hầu hết những người trả lời (93%) đã tốt nghiệp đại học và sau đại học; và chủ yếu làm ở các cơ quan bộ, ngành thuộc Chính phủ, Quốc hội, các cơ quan Đảng, Ủy ban Nhân dân và các sở, doanh nghiệp nhà nước, thậm trí ở các đại sứ quán nước ngoài tại Việt Nam. Trong số đó, còn có hai bí thư tỉnh ủy. Tỷ lệ cao ủng hộ sự can thiệp của Nhà nước làm ngạc nhiên không ít người. Đại diện của WB, tổ chức luôn khuyến khích thị trường tự do, giải thích một cách vớt vát rằng: lạm phát tăng cao, giá cả đắt đỏ đã làm tổn thương nhiều người, và vì thế họ thích được Nhà nước bảo hộ.
Đang có một nghịch lý, càng chuyển sang nền kinh tế thị trường, mức độ can thiệp của nhà nước vào thị trường càng cao.
Dù sao, hầu hết những người có học thức cao thích "bàn tay hữu hình" hơn "bàn tay vô hình" cơ mà! Vậy có gì đáng phải phàn nàn? Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cảnh báo: "Nếu các cơ quan Nhà nước căn cứ vào tỷ lệ đó mà làm chính sách thì chết. Nó triệt tiêu mọi động lực phát triển". Việt Nam được xếp thứ 113 trong số 142 quốc gia về gánh nặng quy định, theo báo cáo Chỉ số cạnh tranh toàn cầu năm 2011-2012 do Diễn đàn Kinh tế Thế giới công bố gần đây. Vì những tiêu chí như trên, năng lực cạnh tranh của Việt Nam lùi 6 bậc so với báo cáo công bố trước đó.
Vẫn trong khảo sát nói trên, một số lượng vượt trội là 87% phản hồi mong muốn có nền kinh tế thị trường. Dù vậy, báo cáo kết luận rằng, những người làm trong bộ máy chính quyền thiếu nhiệt tình về cải cách so với những người làm ở ngoài, vì thế quá trình chuyển dịch sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam không thể kết thúc nhanh và ngắn gọn được.
Lạm phát trong tháng giáp Tết có thể đứng ở mức thấp kỷ lục trong 10 năm qua. Đây liệu có còn cơ sở để NHNN giảm lãi suất, mà theo đó các doanh nghiệp trong nước sẽ bớt phần khó khăn?
Tái cơ cấu là một nhiệm vụ trọng tâm giúp chuyển đổi nền kinh tế Việt Nam sang xu hướng phát triển theo chiều sâu và bền vững, thân thiện với môi trường. Đối với mục tiêu định hướng phát triển bền vững vùng Tây Nguyên, tái cơ cấu kinh tế đóng vai trò quan trọng sống còn.
Trong niềm kỳ vọng về sự phát triển của đất nước, chúng ta đã có chiến lược phát triển kinh tế biển nhằm hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam thành cường quốc biển. Đó là một kỳ vọng tốt đẹp. Tuy nhiên, với tinh thần “ôn cố tri tân”, bài viết này sẽ sơ bộ tìm hiểu tại sao Việt Nam, dù nằm ngay sát biển và gần với một trong những tuyến đường biển nhộn nhịp nhất trên thế giới, lại đã không thể trở thành cường quốc biển.
Khối Nghiên cứu Kinh tế của Ngân hàng HSBC (HSBC Global Research) vừa công bố bản báo cáo về Kinh tế Vĩ mô Châu Á quý I/2012 (Macro Asian Economics), theo đó, mặc cho tình hình tăng trưởng kinh tế toàn cầu trì trệ và những điều kiện khó khăn trong nước, đà tăng trưởng của Việt Nam vẫn đạt con số khá ấn tượng.
Thời gian lặng lẽ trôi theo dòng lịch sử nhưng nặng trĩu những đo đếm trong ta khi ngẫm về sự phát triển của đất nước...Dẫu cho "mọi so sánh đều khập khiễng".
Trong báo cáo mang tên “The world in 2050” (Thế giới năm 2050) vừa công bố, chuyên gia kinh tế Karen Ward của ngân hàng Anh quốc HSBC cho rằng, Việt Nam sẽ nằm trong nhóm 50 nền kinh tế hàng đầu thế giới.
Báo cáo của Chính phủ trình Quốc hội K XIII, tại kỳ họp thứ 2 về nhiệm vụ năm 2012 đã xác định mục tiêu của năm 2012 là “Ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng ở mức hợp lý gắn với đổi mới môi hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh; bảo đảm phúc lợi xã hội, an sinh xã hội và cải thiện đời sống nhân dân …”.
Thực tế cho thấy: hiện đại hóa ở Tây Nguyên về cơ bản vẫn là quá - trình - một - công - đoạn, quá trình từ bên ngoài, quá trình từ bên trên. Trong khi đó, nội lực cần thiết từ nền tảng cộng đồng lại hầu như bị lãng quên. Đây vừa là hạn chế căn bản, vừa là nguyên nhân dẫn đến những mặt trái của hiện đại hóa Tây Nguyên hiện nay.
Mặc dù vẫn còn những hạn chế nhất định, các nước mới nổi yếu hơn trong đó có Việt Nam, được đánh giá là thị trường tiềm năng cho các nhà đầu tư mạo hiểm trong những năm tới.
Trong khủng hoảng, những khiếm khuyết của thị trường đã làm cho tư duy "Nhà nước cần can thiệp mạnh vào thị trường" trở nên thắng thế. Đang có một nghịch lý, càng chuyển sang nền kinh tế thị trường, mức độ can thiệp của nhà nước vào thị trường càng cao
Ông Nguyễn Đình Cung, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) khi được đề nghị đưa ra một lời khuyên cho giới đầu tư, kinh doanh trong năm 2012 đã chân thành bảo: "Không nên quá sốt ruột"!
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.