Trên thế giới, đến nay không nhiều quốc gia mà Thủ đô có bề dày lịch sử nghìn năm như Thăng Long - Hà Nội. Gần như liên tục, mười thế kỷ, Thăng Long - Hà Nội là kinh đô - thủ đô, trung tâm chính trị, hành chính của đất nước. Thời gian ấy, vai trò ấy khiến Thăng Long - Hà Nội, như một lẽ tự nhiên, thật sự trở thành trái tim của Việt Nam.
Một góc khu đô thị mới phía tây Hà Nội.
Trên những ý nghĩa như vậy, Ðảng và Nhà nước ta, Ðảng bộ và chính quyền thành phố Hà Nội, ngay từ những năm cuối thập kỷ trước, đã triển khai nhiều kế hoạch chuẩn bị cho đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội. Ngày 4-5-1998 Bộ Chính trị ra Chỉ thị 32/CT-T.Ư về Kỷ niệm 990 năm và 1000 năm Thăng Long - Hà Nội nêu rõ: "Ðây là một sự kiện trọng đại trong lịch sử nước nhà. Bởi vậy, việc tổ chức kỷ niệm 1000 năm Thăng Long là sự biểu thị tình cảm và đạo lý uống nước nhớ nguồn của người Việt Nam đối với các thế hệ cha ông đã có công dựng nước, giữ nước; là dịp giáo dục truyền thống lịch sử và cách mạng của dân tộc, động viên toàn Ðảng, toàn dân phấn đấu xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Ðây cũng là dịp để giới thiệu và nâng cao tầm vóc của Thủ đô Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung ở khu vực và trên thế giới". Trong số các hoạt động gắn với sự kiện trọng đại này, nghiên cứu khoa học về Thăng Long - Hà Nội là một trọng tâm. Nhiều đề tài khoa học đề cập các mặt của đời sống Thăng Long - Hà Nội đã được thực hiện.
Với mục tiêu tổng kết toàn bộ lịch sử nghìn năm Thăng Long - Hà Nội, định hướng phát triển Thủ đô trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Chương trình khoa học và công nghệ cấp Nhà nước Nghiên cứu phát huy điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và giá trị lịch sử - văn hóa 1000 năm Thăng Long - Hà Nội phục vụ phát triển toàn diện Thủ đô, mã số KX.09 do GS, TS Phùng Hữu Phú làm Chủ nhiệm, UBND thành phố Hà Nội là cơ quan chủ trì đã được triển khai từ đầu năm 2005. Chương trình gồm 11 đề tài nghiên cứu từng lĩnh vực cụ thể của đời sống Thăng Long - Hà Nội và một đề tài có tính tổng kết, mang mã số từ KX.09.01 đến KX.09.12. Các đề tài đó là: Phân tích đánh giá điều kiện tự nhiên, địa lý, địa chất, môi trường góp phần định hướng phát triển không gian của Thủ đô Hà Nội trong nửa đầu thế kỷ XX; Thăng Long - Hà Nội với vai trò trung tâm chính trị, hành chính của đất nước - những bài học về quản lý và phát triển; Bài học kinh nghiệm hoạt động đối ngoại của Thăng Long - Hà Nội; Bài học kinh nghiệm trong sự nghiệp giải phóng, bảo vệ Thăng Long - Hà Nội; Quá trình đô thị hóa ở Thăng Long - Hà Nội; kinh nghiệm lịch sử và định hướng quy hoạch phát triển đô thị Hà Nội trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Kinh tế hàng hóa Thăng Long - Hà Nội: đặc trưng và kinh nghiệm; Giáo dục và đào tạo Thăng Long - Hà Nội; Ðịnh hướng phát triển giáo dục và đào tạo của Thủ đô trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Phát triển khoa học và trọng dụng nhân tài của Thăng Long - Hà Nội; Bảo tồn và phát huy những giá trị lịch sử - văn hóa, cách mạng tiêu biểu của Thăng Long - Hà Nội; Bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa phi vật thể của Thăng Long - Hà Nội; Những phẩm chất nhân cách đặc trưng của người Hà Nội trong quá trình xây dựng và bảo vệ Thủ đô; Phương hướng, giải pháp lớn phát huy tiềm lực tự nhiên, kinh tế, xã hội và giá trị lịch sử - văn hóa để phát triển bền vững Thủ đô Hà Nội đến năm 2020. Ðây là chương trình nghiên cứu khoa học lớn nhất về Thăng Long - Hà Nội từ trước đến nay, giải quyết một cách toàn diện những vấn đề cơ bản liên quan đến đời sống Thăng Long - Hà Nội qua mười thế kỷ, xác định những tiềm lực tích hợp từ truyền thống, ngưng đọng trong hiện tại, đề xuất quan điểm, định hướng và giải pháp nhằm phát huy hiệu quả tiềm lực đó phục vụ sự nghiệp phát triển bền vững Thủ đô.
Các đề tài cụ thể đã hoàn thành và được nghiệm thu trong các năm 2008-2009. Ðề tài cuối cùng, tổng kết toàn bộ chương trình, do GS, TS Phùng Hữu Phú trực tiếp làm Chủ nhiệm, được tổ chức nghiệm thu cấp Nhà nước ngày 7-8-2010 tại Hội trường UBND thành phố Hà Nội.
Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu của đề tài tập trung làm rõ tiềm năng và thực trạng sử dụng các nguồn lực (tự nhiên, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội) của Thủ đô; những bài học lịch sử trong xác định đúng vị trí, vai trò của Thăng Long - Hà Nội, trong khai thác gắn với bồi đắp các nguồn lực, trong xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý; những thời cơ, thách thức và tầm nhìn đến năm 2050; định hướng phát triển Thủ đô bền vững với năm quan điểm, tám định hướng và chín giải pháp lớn. Xuyên suốt, những vấn đề có tính căn cốt nhất, chi phối nhất đến phát triển Thủ đô trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần phải thực hiện là:
Thứ nhất, cần phải quy hoạch và tổ chức thực hiện quy hoạch Thủ đô một cách khoa học và hiệu quả nhất.
Thứ hai, cần phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách mạnh mẽ phù hợp với đặc thù của đô thị vừa đóng vai trò trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, vừa là đô thị đa chức năng trung tâm.
Thứ ba, cần phải xây dựng văn hóa Thủ đô thành mẫu mực và hình ảnh của văn hóa Việt Nam, thành điểm hướng tâm của nhân dân cả nước, của người Việt Nam định cư ở nước ngoài, thành cơ sở tinh thần của sự hình thành mối liên kết quốc gia và thống nhất dân tộc.
Thứ tư, cần phải nâng cao chất lượng của hệ thống chính trị, trong đó quan trọng nhất là phải xây dựng được đội ngũ cán bộ vừa giỏi về nghiệp vụ quản lý, vừa thể hiện được sắc thái văn hóa Thăng Long - Hà Nội trong lãnh đạo và quản lý.
Hội đồng nghiệm thu cấp Nhà nước (do GS, TS Ðỗ Hoài Nam làm Chủ tịch) đều nhất trí đánh giá cao kết quả nghiên cứu của đề tài và bỏ phiếu xếp loại xuất sắc; đồng thời kiến nghị Bộ Khoa học và Công nghệ cùng UBND thành phố Hà Nội cần sớm có kế hoạch tiếp tục triển khai việc nghiên cứu đánh giá các tiềm lực của Thủ đô sau ngày mở rộng địa giới. Ðánh giá chung về chương trình, đại diện Bộ Khoa học và Công nghệ cho rằng, đây là một trong những chương trình khoa học và công nghệ thành công nhất, có giá trị khoa học và thực tiễn to lớn. Kết quả cuối cùng của tất cả các đề tài thuộc Chương trình KX.09 đều được thể hiện dưới dạng các công trình nghiên cứu khoa học và công bố trong "Tủ sách Thăng Long ngàn năm văn hiến" sẽ xuất bản trong dịp Ðại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội.
Phát biểu ý kiến tại buổi nghiệm thu, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Ngô Thị Thanh Hằng đánh giá cao sự đóng góp trí tuệ của các nhà khoa học, đặc biệt là các nhà khoa học Trung ương trong quá trình triển khai chương trình, nhất là với đề tài mang tính tổng kết này. Ðó là một biểu hiện rõ rệt tinh thần trách nhiệm của giới khoa học với Thủ đô và cũng là biểu hiện sinh động của thái độ trọng thị, cách thức huy động sự đóng góp giới khoa học với Thủ đô của lãnh đạo thành phố Hà Nội. Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể thì việc huy động tiềm năng chất xám và trách nhiệm của giới trí thức với Thủ đô vẫn còn hạn chế. Từ thực tiễn triển khai chương trình khoa học này thành phố Hà Nội sẽ có thêm kinh nghiệm để khai thác và phát huy tốt hơn nữa tiềm lực trí tuệ to lớn đó.
(Theo PGS, TS Vũ Văn Quân - Ðại học Quốc gia Hà Nội// Nhandan Online)
Với phương châm hoạt động vì người nghèo, tạo điều kiện cho họ tiếp cận với kênh tín dụng ưu đãi của Nhà nước. Bảy năm qua, những chương trình của Ngân hàng Chính sách Xã hội Gia Lai đã tiếp thêm sức cho các hộ gia đình trên địa bàn từng bước xóa đói giảm nghèo, ổn định cuộc sống.
Hàng chục dự án thủy điện lớn, vừa và nhỏ đang được triển khai tại miền Trung đã tạo nên nguồn điện rất lớn, hỗ trợ phát triển kinh tế đất nước và trực tiếp mang lại cơ hội phát triển cho khu vực này.
Phát triển bền vững là yêu cầu cấp thiết đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường ở nước ta đi vào CNH và hội nhập toàn cầu. Vượt qua mức thu nhập trung bình để vươn tới nước phát triển đòi hỏi chúng ta phải có chiến lược phát triển dựa vào nguồn lực con người. Ðây là nhân tố quyết định nhất đối với quá trình CNH, HÐH đất nước và bảo đảm cho sự phát triển nhanh, bền vững.
Đồ án quy hoạch xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 chưa đạt yêu cầu, Hội Kiến trúc sư Việt Nam tỏ rõ quan điểm tại văn bản góp ý chính thức được gửi tới Văn phòng Trung ương Đảng ngày 26/8.
Thủ tướng mong muốn, các địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long liên kết với nhau chặt chẽ hơn, huy động cao nhất các nguồn lực bên trong và bên ngoài, phát triển một cách bền vững.
Đó là khẳng định của ông Lê Tuấn, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Đầu tư phát triển không gian ngầm (IUS) – chủ đầu tư Dự án Bãi đậu xe ngầm Công viên Lê Văn Tám (quận 1, TP.HCM) tại buổi làm việc giữa công ty này với báo giới vào giữa tuần này.
Với hi vọng chấm dứt sự phát triển manh mún đồng thời thiết lập quy trình sản xuất – tiêu thụ rau an toàn khép kín và đảm bảo tiêu chí kỹ thuật, an toàn.
Nếu như cách đây vài năm, hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D - cụm từ thường được dùng trong hoạt động quản trị doanh nghiệp) vẫn còn rất xa lạ với các doanh nghiệp (DN) Việt Nam thì thời gian gần đây, các DN sản xuất, cung ứng dịch vụ đã bắt đầu chú trọng đến hoạt động này nhằm có thể đưa ra các sản phẩm, dịch vụ mới đáp ứng nhu cầu thị trường và thực hiện chiến lược phát triển của DN.
Mất 217 giờ và 2.910 USD để vận chuyển 30 tấn hàng từ Bangkok (Thái Lan) đến Hà Nội bằng đường biển, 74 giờ và 5.500 USD bằng đường bộ, 29 giờ và 69.940 USD bằng đường không.
Những tác động đa chiều của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến nền kinh tế Việt Nam là nội dung chính của tọa đàm "Bối cảnh quốc tế sau khủng hoảng tài chính thế giới và ảnh hưởng đến Việt Nam".
Việc Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa VND và USD từ ngày 18/8/2010 từ mức 18.544 VND/USD lên mức 18.932 VND/USD và giữ nguyên biên độ tỷ giá ở mức +/-3% đã thu hút được nhiều sự quan tâm từ các nhà đầu tư cũng như giới phân tích ở nhiều góc độ khác nhau.
Theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, thiết kế thị trường phát điện cạnh tranh Việt Nam (VCGM) sẽ được đưa vào vận hành trong năm 2011. Thực hiện lộ trình phát triển thị trường điện đã được Thủ tướng phê duyệt, Bộ Công thương đã giao cho Cục Điều tiết điện lực triển khai việc thiết kế thị trường phát điện cạnh tranh Việt Nam và hệ thống các quy định đồng bộ cho hoạt động của thị trường.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.