Mặc dù vẫn còn những hạn chế nhất định, các nước mới nổi yếu hơn trong đó có Việt Nam, được đánh giá là thị trường tiềm năng cho các nhà đầu tư mạo hiểm trong những năm tới.
Đầu tư vào thị trường mới nổi đang là một hướng đi mới của các nhà đầu tư khi thị trường phát triển đang ngày càng đi xuống.
Tuy nhiên, thị trường các nước mới nổi thuộc nhóm BRIC dường như đang trở nên kém hấp dẫn khi nền kinh tế của Trung Quốc giảm sút, các biện pháp kích thích kinh tế của Ấn Độ thiếu tính mềm dẻo, chính trị tại Nga thiếu ổn định hay vấn đề lạm phát tại Brazil..
Tuy nhiên, mặc dù vẫn còn những hạn chế nhất định, các nước mới nổi yếu hơn như Việt Nam, Venezuela...lại là những cơ hội lớn cho các nhà đầu tư.
Dưới đây là 15 thị trường mới nổi tiềm năng nhất theo Business Insider.
1.Argentina
Tăng trưởng GDP dài hạn: 4,1%
GDP theo đầu người: 10.675 USD
GDP: 435,2 tỷ USD
Dân số: 40,8 triệu
Tỷ lệ người lớn biết chữ: 98%
Ưu điểm: cơ sở vật chất tại nước này tốt hơn các nước mới nổi khác. Nó cũng có lợi thế về sản xuất nông nghiệp. Nhu cầu trong nước trong thời gian gần đây tăng cao đã thúc đẩy nền kinh tế.
Nhược điểm: lạm phát là một rủi ro lớn, đồng tiền pê xô có nguy cơ mất giá mạnh. Trong khi đó những lo ngại liên quan đến vấn đề chính sách cũng ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển của thị trường cổ phiếu.
2. Bangladesh
Tăng trưởng GDP dài hạn: 7,5%
GDP theo đầu người: 764 USD
GDP: 115 tỷ USD
Dân số: 150,5 triệu
Tỷ lệ người lớn biết chữ: 56%
Ưu điểm: đây là một thị trường mới nên nhà đầu tư có nhiều "sân chơi" hơn. Là một nền kinh tế trẻ, tăng trưởng nhanh với lực lượng lao động rẻ. Thị trường chứng khoán của Bangladesh cũng lớn hơn và linh hoạt hơn so với thị trường các nước mới nổi khác.
Nhược điểm: cơ hội việc làm hạn chế khiến người lao động đổ xô ra nước ngoài tìm việc. Cơ sở hạ tầng của đất nước cần được cải thiện. Bên cạnh đó, việc điều hành và giám sát còn hạn chế cũng là một rủi ro đối với lĩnh vực đầu tư tài chính.
3.Ả Rập
Tăng trưởng GDP dài hạn: 6,3%
GDP theo đầu người: 2.810 USD
GDP: 231,9 tỷ USD
Dân số: 82.5 triệu
Tỷ lệ người lớn biết chữ: 66%
Ưu điểm: nhiều người dân được tiếp cận với nền giáo dục tiến bộ hơn so với các nước láng giềng. Ngành năng lượng, thương mại, giao thông vận tải và du lịch hoạt động tương đối tốt do những lợi thế về mặt địa lý.
Nhược điểm: tình hình chính trị cộng với những phong trào biểu tình như mùa xuân Ả Rập vẫn còn là những rào cản lớn cho hoạt động đầu tư. Tình trạng thất nghiệp của thanh niên cũng là một vấn đề làm đau đầu các nhà chức trách.
4.Ghana
GDP theo đầu người: 1.546 USD
GDP: 38,6 tỷ USD
Dân số:25 triệu
Tỷ lệ người lớn biết chữ: 67%
Ưu điểm: nước này có những lợi thế lớn về tài nguyên thiên nhiên như vàng, kim cương, cao cao, man-gan...Ngoài ra Ghana cũng có tiềm năng về dầu mỏ.
Nhược điểm: Ghana vẫn chưa biết tận dụng lợi thế về tài nguyền thiên nhiên của mình giống như các quốc gia châu Phi khác. Bên cạnh đó, những cuộc khủng hoảng tài chính khiến cho nước này thường xuyên phải thực hiện các cuộc bầu cử mới.
5.Iraq
Tăng trưởng GDP dài hạn: 7,6%
GDP theo đầu người: 3.325 USD
GDP: 108,6 tỷ
Dân số: 32.7 triệu
Tỷ lệ người lớn biết chữ: 78%
Ưu điểm: sản lượng dầu mỏ tại nước này sẽ tiếp tục tăng hơn so với các quốc gia khác trong thập kỷ tới.
Nhược điểm: nội bộ chính phủ luôn bất đồng trong những chính sách về dầu mỏ. Tình trạng an ninh luôn là mối đe dọa tại quốc gia này.
6.Kazakhstan
Tăng trưởng GDP dài hạn: 4,5%
GDP theo đầu người: 11.115 USD
GDP: 180,1 tỷ USD
Dân số: 16,2 triệu
Tỷ lệ người lớn biết chữ: 100%
Ưu điểm: đây cũng là một nước giàu tài nguyên thiên nhiên như dầu mỏ, vàng, đồng, chì, u ran...
Nhược điểm: tình hình chính trị với cuộc bầu của sẽ diễn ra vào giữa tháng 1 tại nước này cũng là một vấn đề cần quan tâm. Bên cạnh đó, ngành ngân hàng trong nước cũng đang phải vật lộn với những khó khăn về tình trạng nợ nần.
7.Kenye (quốc gia Đông Phi)
GDP theo đầu người: 868 USD
GDP: 36,1 tỷ USD
Dân số: 41,6 triệu
Tỷ lệ người lớn biết chữ: 87%
Ưu điểm: nước này có lợi thế về tài nguyên khí gas. Ngoài ra, ngành công nhiệp công nghệ truyền thông cũng phát triển nhanh chóng. Nước này cũng giữ vị trí quan trọng trong lĩnh vực kinh doanh và sản xuất tại khu vực Đông Phi.
Nhược điểm: tình hình bất ổn chính trị luôn diễn ra tại đây. Bên cạnh đó, lạm phát do giá lương thực tăng cao vì thiên nhiên khắc nghiệt cũng là mối lo lớn.
8.Mông Cổ
Tăng trưởng GDP dài hạn: 6,9%
GDP theo đầu người: 3.127 USD
GDP:8,8 tỷ USD
Dân số: 2,8 triệu
Tỷ lệ người lớn biết chữ: 97%
Ưu điểm: Mông Cổ là nước giàu tài nguyên khoáng sản trong đó có đồng và than đá. Dân số trẻ và phát triển nhanh cộng với tỷ lệ tiết kiệm cao cũng là những lợi thế của nước này.
Nhược điểm: Mông Cổ cũng như nhiều quốc gia khác chưa biết sử dụng một cách hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên.
9.Nigeria
Tăng trưởng GDP dài hạn: 8,4%
GDP theo đầu người: 1.521 USD
GDP: 247,1 tỷ USD
Dân số: 162,5 triệu
Tỷ lệ người lớn biết chữ: 61%
Ưu điểm: hệ thống ngân hàng của Nigeria hoạt động tương đối hiệu quả.
Nhược điểm: những bất đồng về tôn giáo đã khiến cho tình hình xã hội tại nước này trở nên bất ổn. Cơ sở vật chất cũng là rào cản cho phát triển kinh tế.
10. Pakistan
Tăng trưởng GDP dài hạn: 4,9%
GDP theo đầu người: 1.155 USD
GDP: 204.1 tỷ USD
Dân số: 176.7 triệu
Tỷ lệ người lớn biết chữ: 56%
Ưu điểm: Pakistan là một quốc gia có dân số trẻ, đông và phát triển.
Nhược điểm: trình độ giáo dục của dân cư cần được cải thiện để đáp ứng với những đòi hỏi của nền kinh tế đang phát triển nhanh. Bên cạnh đó tình hình chính trị và an ninh tại nước này vẫn còn đang trong tình trạng báo động.
11. Rumani
Tăng trưởng GDP dài hạn: 3,5%
GDP theo đầu người: 8.645 USD
GDP: 185,3 tỷ USD
Dân số: 21,4 triệu
Tỷ lệ người lớn biết chữ: 98%
Ưu điểm: ngành xuất khẩu tương đối phát triển
Nhược điểm: 75% các ngân hàng tại nước này là do các ngân hang châu Âu sở hữu và đã bị ảnh hưởng cuộc khủng hoảng châu Âu vừa qua.
12.Sri Lanka
Tăng trưởng GDP dài hạn: 6,6%
GDP theo đầu người: 2.795 USA
GDP: 58,8 tỷ
Dân số: 21 triệu
Tỷ lệ người lớn biết chữ: 91%
Ưu điểm: đầu tư nước ngoài tại nước này tăng mạnh trong thời gian qua. Xuất khẩu nói chúng, đặv biệt là các mặt hàng dệt may và nông nghiệp tăng vọt.
Nhược điểm: một vài chính sách của nhà nước về việc mua tài sản đã đặt ra những khó khăn cho đầu tư nước ngoài.
13.U-krai-na
Tăng trưởng GDP dài hạn: 3,7%
GDP theo đầu người: 3.604 USD
GDP: 162,9 tỷ USD
Dân số: 45.2 triệu
Tỷ lệ người lớn biết chữ: 100%
Ưu điểm: đây là một trong những nước có nền nông nghiệp phát triển nhất châu Âu. Ngoài ra lực lượng lao động có trình độ văn hóa cao cũng là một lợi thế cho thúc đẩy phát triển sản xuất.
Nhược điểm: vấn đề tham nhũng và tình hình châu Âu đang đặt ra những thách thức cho ngành kinh doanh tại nước này. Đồng tiền mất giá cũng là những rủi ro trước mắt. Bên cạnh đó Ucrai-na cũng phụ thuộc quá nhiều vào Nga về lĩnh vực năng lượng.
14.Venezuela
Tăng trưởng GDP dài hạn: 4,3%
GDP theo đầu người: 10.525 USD
GDP: 309,8 tỷ USD
Dân số: 29,4 triệu
Tỷ lệ người lớn biết chữ: 95%
Ưu điểm: Venezuela là một trong những nước có tỷ lệ dự trữ dầu lớn nhất thế giới. Bên cạnh đó, xuất khẩu cũng tương đối phát triển
Nhược điểm: một nửa doanh thu chính phủ của Venezuela phụ thuộc vào xuất khẩu dầu mỏ, chính vì thế nền kinh tế luôn bị ảnh hưởng mạnh trước những biến động của giá dầu thế giới. Tổng thống Hugo Chave quyết định quốc gia hóa ngành sản xuất dầu, thép, xi măng và hệ thống siêu thị. Điều này đã làm giảm đầu tư nước ngoài tại nước này.
15. Việt Nam
Tăng trưởng GDP dài hạn: 7,4%
GDP theo đầu người: 1.370 USD
GDP: 121,6 tỷ USD
Dân số: 88,8 triệu
Tỷ lệ người lớn biết chữ: 93%
Ưu điểm: Việt Nam có lợi thế về các ngành sản xuất nhiều nhân công và nông nghiệp.
Nhược điểm: tỷ lệ lạm phát tăng quá cao (22,4%) do nôn nóng trong phát triển kinh tế. Hệ thống ngân hàng của Việt Nam còn tương đối yếu kém.
Thực tế cho thấy: hiện đại hóa ở Tây Nguyên về cơ bản vẫn là quá - trình - một - công - đoạn, quá trình từ bên ngoài, quá trình từ bên trên. Trong khi đó, nội lực cần thiết từ nền tảng cộng đồng lại hầu như bị lãng quên. Đây vừa là hạn chế căn bản, vừa là nguyên nhân dẫn đến những mặt trái của hiện đại hóa Tây Nguyên hiện nay.
Báo cáo của Chính phủ trình Quốc hội K XIII, tại kỳ họp thứ 2 về nhiệm vụ năm 2012 đã xác định mục tiêu của năm 2012 là “Ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng ở mức hợp lý gắn với đổi mới môi hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh; bảo đảm phúc lợi xã hội, an sinh xã hội và cải thiện đời sống nhân dân …”.
Trong báo cáo mang tên “The world in 2050” (Thế giới năm 2050) vừa công bố, chuyên gia kinh tế Karen Ward của ngân hàng Anh quốc HSBC cho rằng, Việt Nam sẽ nằm trong nhóm 50 nền kinh tế hàng đầu thế giới.
Thời gian lặng lẽ trôi theo dòng lịch sử nhưng nặng trĩu những đo đếm trong ta khi ngẫm về sự phát triển của đất nước...Dẫu cho "mọi so sánh đều khập khiễng".
Trong khủng hoảng, những khiếm khuyết của thị trường đã làm cho tư duy "Nhà nước cần can thiệp mạnh vào thị trường" trở nên thắng thế. Đang có một nghịch lý, càng chuyển sang nền kinh tế thị trường, mức độ can thiệp của nhà nước vào thị trường càng cao
Ông Nguyễn Đình Cung, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) khi được đề nghị đưa ra một lời khuyên cho giới đầu tư, kinh doanh trong năm 2012 đã chân thành bảo: "Không nên quá sốt ruột"!
Cho dù bức tranh kinh tế năm 2011 của chúng ta còn nhiều gam màu xám nhưng cũng phải thừa nhận rằng năm qua Chính phủ đã có rất nhiều cố gắng vượt khó trong bối cảnh kinh tế toàn cầu chưa qua cơn suy thoái.
Để tái cấu trúc, đầu tiên là cải tổ hành chính. "Cải tổ hành chính để người dân có thể tiên liệu tốt hơn và chủ động hơn trong tính toán kinh doanh, sẽ có tác động tích cực lập tức lên toàn bộ nền kinh tế, tạo nên một vòng xoáy phát triển ngày càng tăng tốc" - TS Trần Sĩ Chương.
Đến tháng 9/2011, số vụ bắt giữ tàu Việt Nam tại các cảng quốc tế tăng lên đột biến đến 83 vụ. Từ đó đến cuối tháng 12-2011, chỉ chưa đầy ba tháng sau, giải pháp cụ thể vẫn chưa được đưa ra trong khi danh sách tàu bị lưu giữ đã lại tăng vọt lên đến 126 tàu.
“Phải nhìn phía sau của con số mới thấy được ý nghĩa”, Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài Đỗ Nhất Hoàng lưu ý như vậy về tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong năm 2011.
Năm 2012, được nhiều chuyên gia và các doanh nghiệp đánh giá là một năm đặc biệt, một năm tiền đề cho sự thay đổi về chất lượng phát triển. Còn nhiều khó khăn nhưng tất cả đều hy vọng tái cơ cấu sẽ tạo ra những cơ hội phát triển mới.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.