Một chiến lược phát triển dài hạn được toàn dân quan tâm và có tính cách như một tuyên ngôn của đảng cầm quyền về đường hướng phát triển đất nước phải hội đủ một số điều kiện:
Thứ nhất, chiến lược phải đưa ra được các mục tiêu đáp ứng yêu cầu thiết thân của tuyệt đại đa số dân chúng để họ có thể mơ thấy một cuộc sống khác hẳn bây giờ trong khoảng một thập niên sắp tới.
Thứ hai, trong thời đại hội nhập ngày càng sâu vào thị trường khu vực và thế giới, chiến lược phải xuất phát từ sự đánh giá đúng đắn về vị trí hiện tại của kinh tế Việt Nam và những thách thức cũng như những mặt thuận lợi của ta.
Thứ ba, chiến lược phải tạo được niềm tin trong dân là các chính sách, biện pháp để đạt các mục tiêu phát triển phải có tính khả thi cao đồng thời cho người dân thấy bộ máy hành chính và đội ngũ quan chức sẽ đủ năng lực và trách nhiệm để thực hiện các chính sách, biện pháp đó.
Từ nhận định này, theo tôi, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 cần có những nội dung sau:
1. Nhận định về giai đoạn hiện nay của kinh tế Việt Nam
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Tuy nhiên trong thời gian qua cũng nảy sinh sự chênh lệch ngày càng lớn trong việc phân phối thành quả của đổi mới.
Sự chênh lệch đó quá lớn, ngoài dự tưởng của lý luận về kinh tế phát triển và của kinh nghiệm các nước đi trước. Đối với người có thu nhập thấp, thành phần chiếm đa số trong dân, ngoài việc lo cái ăn, cái mặc, cái ở hàng ngày, gánh nặng chi phí về giáo dục và y tế kéo mức sống của họ xuống thấp hơn nữa.
Mặt khác, việc làm của con em của những người có thu nhập thấp sau khi ra trường cũng là mối lo, nhất là vẫn còn hiện tượng phải có quan hệ, phải có những điều kiện tiêu cực khác mới xin được việc làm. Người có thu nhập trung bình cũng trực diện với những lo lắng về gánh nặng giáo dục, y tế, việc làm, tuy ở một mức độ nhẹ hơn.
Nhìn Việt Nam trong bối cảnh của vùng Đông Á, ta thấy thành quả phát triển của mình còn rất khiêm tốn. Từ khi có đổi mới đến nay, khoảng cách phát triển giữa Việt Nam so với Thái Lan chẳng hạn có rút ngắn nhưng không đáng kể (GDP đầu người theo giá trị thực của Thái Lan gấp gần năm lần Việt Nam vào năm 1984, đến năm 2008 cũng còn tới bốn lần) và so với Trung Quốc thì khoảng cách ngày càng mở rộng (GDP đầu người của Trung Quốc chỉ hơn Việt Nam 30% vào năm 1984 nhưng vào năm 2008 Trung Quốc cao gấp ba lần Việt Nam).
Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Trong 10 năm tới thách thức lớn nhất của Việt Nam là gì? Theo tôi là Việt Nam sẽ trực diện hai cái bẫy mà nếu không có nỗ lực vượt qua thì kinh tế Việt Nam sẽ không phát triển bền vững, sẽ bước vào giai đoạn trì trệ dù khả năng phát triển như hiện nay sẽ kéo dài một thời gian nữa.
Thứ nhất là khả năng xảy ra cái bẫy của trào lưu mậu dịch tự do và cái bẫy này đang to ra và mạnh hơn dưới áp lực của sự trỗi dậy của Trung Quốc. Tại vùng Đông Á lợi thế so sánh của các nước chuyển dịch nhanh, thúc đẩy bởi sự trỗi dậy của Trung Quốc.
Nhiều nước nỗ lực tăng hàm lượng kỹ năng, công nghệ, tri thức trong sản phẩm để duy trì vị trí hiện tại, để thúc đẩy phân công hàng ngang với Trung Quốc ở một thứ nguyên cao hơn. Trong khi đó lợi thế so sánh của Việt Nam vẫn là nguyên liệu, nông lâm thủy sản và hàng công nghiệp dùng nhiều lao động giản đơn. Hơn nữa, hàng công nghiệp xuất khẩu phải phụ thuộc vào nhập khẩu linh kiện và các sản phẩm trung gian khác.
Đặc biệt hiện nay cơ cấu mậu dịch giữa Việt Nam và Trung Quốc có tính chất Bắc Nam, nghĩa là quan hệ giữa nước tiên tiến và nước chậm tiến, trong đó Việt Nam xuất khẩu nguyên liệu thiên nhiên kể cả sản phẩm sơ chế và nhập khẩu hàng công nghiệp.
Dưới trào lưu mậu dịch tự do tại Đông Á, đặc biệt dưới tác động của Hiệp định Thương mại tự do ASEAN-Trung Quốc, trong đó từ tháng 1-2015 Việt Nam sẽ cắt giảm thuế đối với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc, sản phẩm rẻ từ Trung Quốc sẽ ào ạt vào thị trường Việt Nam. Ngoài ra, Khu mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) đã gây ra hiệu quả là nhiều công ty đa quốc gia đang có khuynh hướng xem Việt Nam là thị trường tiêu thụ và tập trung sản xuất hàng công nghiệp tại các nước ASEAN khác.
Trong khuôn khổ AFTA, đối với hầu hết các mặt hàng công nghiệp, Việt Nam đã cắt giảm thuế xuống còn dưới 5% và từ năm 2015 sẽ không còn thuế (0%) để tham gia thực hiện Cộng đồng kinh tế ASEAN. Nguy cơ của hiện tượng tự do hóa mậu dịch này là cơ cấu lợi thế so sánh của Việt Nam có thể sẽ bị cố định hóa, không thể chuyển dịch lên cao hơn. Tôi gọi đây là cái bẫy của trào lưu mậu dịch tự do mà Việt Nam sẽ trực diện trong vài năm tới. Nếu không có chiến lược, biện pháp mạnh mẽ để thoát khỏi cái bẫy này, Việt Nam sẽ mãi mãi là nước sản xuất và xuất khẩu nguyên liệu, nông lâm thủy sản và hàng công nghiệp dùng lao động giản đơn.
Thứ hai là cái bẫy thu nhập trung bình. Trong nước, vấn đề này gần đây được bàn đến nhiều nhưng chưa thấy các nhà vạch chiến lược đặt thành một bức xúc thật sự để có chính sách đối phó cụ thể. Trong Dự thảo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 cũng không đề cập đến điểm này. Việt Nam vừa đạt mức thu nhập trung bình thấp, và đến khoảng năm 2020 Việt Nam cũng có lẽ sẽ đạt mức thu nhập trung bình cao. Vấn đề là sau đó Việt Nam có thể tiếp tục phát triển bền vững để trở thành nước có thu nhập cao trong một, hai thập kỷ sau đó không.
Trong lịch sử kinh tế thế giới, rất ít nước đã vượt qua được cái bẫy này. Về mặt lý luận cái bẫy này cũng đã được chứng minh. Từ kinh nghiệm các nước và từ phân tích lý luận ta thấy khả năng Việt Nam sa vào bẫy thu nhập trung bình rất cao. Con đường thoát khỏi cái bẫy này tùy thuộc nỗ lực trong giáo dục đào tạo, trong nghiên cứu khoa học, công nghệ và trong việc xây dựng một thể chế chất lượng cao liên quan đến hiệu suất của bộ máy hành chính, quan hệ lành mạnh và có hiệu quả giữa Nhà nước và thị trường, liên quan đến việc xây dựng một xã hội pháp trị.
2. Mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020
Mục tiêu không nên dàn trải mà tập trung vào vài trọng điểm có tính cách chiến lược. Các trọng điểm đó được thực hiện thành công sẽ lan tỏa ra các mặt khác và do đó các mục tiêu khác cũng sẽ đạt được. Ngoài ra, trừ một vài trường hợp đặc biệt, không nên đưa ra chỉ tiêu số lượng và xem đó như tiêu chí phải đạt được (như tốc độ tăng GDP), mà nên trực tiếp nhắm vào việc giải quyết các vấn đề cốt lõi đã nêu. Tốc độ tăng trưởng sẽ là kết quả của các nỗ lực này.
Từ nhận định trên, theo tôi, chiến lược nên đưa ra ba mục tiêu sau:
a. Toàn dụng lao động, đến năm 2020 trên căn bản không còn ai phải lo không có việc làm, không còn phụ nữ muốn lấy chồng người nước ngoài vì lý do kinh tế, không có ai muốn đi lao động nước ngoài một cách bất đắc dĩ vì không có một chọn lựa nào khác.
b. Trong trung hạn (đến năm 2015), trên căn bản ngăn ngừa được cái bẫy của trào lưu mậu dịch tự do.
c. Trong trung và dài hạn phải chuẩn bị đủ các tiền đề để ngăn ngừa được cái bẫy thu nhập trung bình.
Chỉ tiêu định lượng (tốc độ phát triển, GDP đầu người...) không cần đưa ra nhưng các mục tiêu nói trên được thực hiện sẽ cho thấy kinh tế phát triển ở tốc độ cao và bền vững. Các chỉ tiêu định lượng thuộc loại này có thể đưa ra nhưng là để tham khảo chứ không phải là mục tiêu phải đạt cho được.
3. Chính sách, biện pháp để đạt các mục tiêu
Có ba cụm chính sách liên quan mật thiết với nhau: Thứ nhất, trong ngắn và trung hạn phải tạo ra một khí thế đầu tư mạnh mẽ và hiệu quả, kể cả thu hút đầu tư từ nước ngoài, để vừa liên tục tạo ra công ăn việc làm, vừa sớm xác lập vị trí của một nước sản xuất hàng công nghiệp. Với các chính sách này, Việt Nam sẽ tránh được cái bẫy của trào lưu mậu dịch tự do, tránh áp lực từ sự trỗi dậy của Trung Quốc.
Thứ hai, chấn hưng giáo dục, phát triển khoa học, công nghệ bằng các chính sách cụ thể, quyết liệt, để bảo đảm cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng cao, và đưa trình độ khoa học và công nghệ của đất nước ngang tầm với nhiều nước trong khu vực, chuẩn bị chuyển sang nền kinh tế tri thức.
Thứ ba, hiệu suất hóa bộ máy hành chánh, đưa ra biện pháp cụ thể về chế độ thi tuyển quan chức các cấp và cải cách tiền lương, và có cơ chế cụ thể xây dựng nhà nước pháp quyền, dân chủ. Cụm chính sách thứ hai và thứ ba là những điều kiện cần để tránh cái bẫy của nước thu nhập trung bình.
Dưới đây nói thêm về ba cụm chính sách này.
a. Tạo ra khí thế đầu tư mạnh mẽ và hiệu quả
Cải thiện triệt để môi trường đầu tư, tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận các nguồn lực như vốn, đất, thông tin, kèm theo các chính sách về thuế, tín dụng để khuyến khích các dự án đầu tư có chất lượng cao; cần xây dựng các khu công nghiệp có chất lượng, cải thiện thị trường lao động để thu hút FDI. Cải thiện thị trường vốn và thị trường đất đai để thúc đẩy đầu tư trong nước, nhất là đầu tư của các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đây cũng là các chính sách cụ thể để hoàn thiện cơ chế thị trường.
Cần đưa ra các biện pháp quyết liệt để giảm chi phí hành chánh của doanh nghiệp. Chí phí hành chánh chủ yếu là phí tổn cho các thủ tục hành chánh, bao gồm cả chi phí cụ thể và thì giờ bỏ ra để có giấy phép mở rộng hoạt động, để đóng thuế, để nhận hàng ở kho bãi…
Vấn đề nầy không mới và Nhà nước cũng đã có một nỗ lực cải thiện. Nhưng tình trạng không thay đổi bao nhiêu, nhất là so sánh với các nước thì thấy đây vẫn còn là yếu tố lớn làm giảm tinh thần khởi nghiệp của doanh nghiệp trong nước và làm xấu môi trường đầu tư đối với doanh nghiệp nước ngoài. Ở lĩnh vực này nên đưa ra chỉ tiêu định lượng (cải thiện vị trí của Việt Nam trong các đánh giá quốc tế về môi trường đầu tư, về sự minh bạch của chính sách, về tham nhũng,...) và thực hiện cho bằng được trong 3-4 năm trước mắt.
Nhiều mặt hàng nông sản phải xuất khẩu ở dạng thô vì để chế biến phải có vốn đầu tư dài hạn nhưng nông dân và doanh nghiệp nhỏ và vừa hầu như không thể vay vốn này. Doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực công nghiệp cũng vậy. Họ không có vốn để tân trang thiết bị, mua công nghệ mới. Các doanh nghiệp tư nhân có xu hướng phụ thuộc vào nguồn vốn không chính thức (vốn tự tích lũy hoặc vay của họ hàng, bạn bè). Nguyên nhân có tình trạng này là do các ngân hàng quốc doanh có khuynh hướng chỉ cho vay ưu đãi đối với doanh nghiệp quốc doanh, nhất là các doanh nghiệp lớn. Một nguyên nhân nữa là khả năng thẩm định dự án tại các ngân hàng không cao nên họ ngại cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay.
Cần có chính sách kiểm tra, phân tích tình hình cho vay vốn của các ngân hàng quốc doanh và có đối sách cụ thể. Bồi dưỡng cán bộ có khả năng thẩm định dự án đầu tư, khả năng thẩm định độ rủi ro của các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng quan trọng. Phần lớn các biện pháp, chính sách để hoàn thiện thị trường vốn nầy cần thực hiện trong 2-3 năm trước mắt.
Đối với hoạt động của doanh nghiệp, thị trường lao động hiện nay có vấn đề không ăn khớp giữa cung và cầu: Ở các khu công nghiệp tại các thành phố lớn bắt đầu có hiện tượng thiếu lao động, doanh nghiệp khó tuyển dụng số lao động cần thiết, mặc dù ở nông thôn vẫn còn lao động dư thừa. Nguyên nhân là do thiếu thông tin cung cầu lao động, thiếu các dịch vụ liên quan đến lao động như trung tâm giới thiệu việc làm chẳng hạn. Một nguyên nhân nữa là chất lượng lao động (trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, khả năng tiếp thu tri thức về hoạt động của doanh nghiệp,...) không đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp.
Biện pháp để cung cấp lao động một cách ổn định phải bao gồm chính sách ngắn hạn và chính sách trung dài hạn. Trong ngắn hạn, Chính phủ cần chỉ đạo các địa phương (tỉnh, huyện) liên kết và phối hợp với các khu công nghiệp để xây dựng một cơ sở dữ liệu về cung cầu người lao động và thực hiện các hợp đồng môi giới và giới thiệu công việc. Chính quyền địa phương phải tích cực lập các văn phòng môi giới lao động tại các khu công nghiệp, theo dõi động thái về nhu cầu lao động và tổ chức cung cấp lao động tại địa phương mình.
Trong trung và dài hạn, cần có chính sách đẩy mạnh đào tạo trình độ cao đẳng và chuyên môn trung, cao cấp như khả năng thao tác máy móc, sửa chữa máy móc, tri thức về quản lý nhân sự, kế toán, tài chính, tiếp thị,… và khuyến khích các cơ sở đào tạo liên kết với doanh nghiệp để thực hiện các chương trình liên kết đào tạo và sử dụng lao động. Chính sách thuế để thúc đẩy quá trình này cũng nên được áp dụng. Chẳng hạn, xây dựng chế độ lấy chi phí đào tạo nhân viên của các doanh nghiệp để khấu trừ thuế (các doanh nghiệp lựa chọn nhân viên của mình để cử đến các trường cao đẳng, trường chuyên môn học tập trong một thời gian và phí tổn đó được khấu trừ khi khai thuế).
Một yếu tố khác làm yếu sức cạnh tranh của nền công nghiệp Việt Nam là chi phí vận tải cao. Việc xây dựng đường bộ cao tốc và các cảng biển bị trì trệ, và đầu tư cho các công trình công cộng này dễ bị phân tán ở các địa phương. Trong nước thì chi phí nhân sự và thu mua nguyên liệu từ các địa phương về đến các khu công nghiệp cũng cao vì hệ thống giao thông chưa được hoàn chỉnh. Cần đầu tư thích đáng cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông trực tiếp phục vụ sản xuất. Vấn đề thiếu điện và tình trạng bất ổn định trong cung cấp điện cũng giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Cần hoãn lại những công trình tốn kém nhiều vốn mà chưa cần thiết để ưu tiên ngân sách cho việc xây dựng hạ tầng giao thông và cung cấp đủ và ổn định điện năng cho hoạt động sản xuất của doanh nghiệp.
Cụ thể về việc xây dựng hệ thống hạ tầng giao thông, cần ưu tiên nâng cấp, cải thiện đường sắt Thống nhất, mở rộng đường sắt phổ thông đến các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh ở miền Bắc. Đường bộ cao tốc cũng nên được xây dựng theo hướng này. Ngoài ra, quan tâm xây dựng hệ thống đường bộ nối các vùng nông thôn đến các xương sống của đường bộ cao tốc và đường sắt phổ thông. Hệ thống hạ tầng giao thông này cùng với nỗ lực cải thiện giáo dục đào tạo như sẽ được đề cập sẽ có tác dụng thúc đẩy phát triển nông thôn, một trong những điều kiện để đạt mục tiêu toàn dụng lao động.
b. Cụ thể hóa các biện pháp làm cho giáo dục, đào tạo và khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu
Triệt để thực hiện miễn phí bậc tiểu học và trung học cơ sở (chậm nhất là đến năm 2015) và trung học phổ thông (đến năm 2020). Song song với việc nâng cấp các đại học đang có, cần có ngay kế hoạch xây dựng một hoặc hai đại học chất lượng cao, trong đó nội dung giảng dạy, cơ chế quản lý, và trình độ giáo sư cũng như tiêu chuẩn đãi ngộ tương đương với các đại học tiên tiến ở châu Á (có kế hoạch cụ thể sớm để chậm nhất là khoảng năm 2015 các đại học này có thể bắt đầu hoạt động).
Về các đại học và trường cao đẳng ngoài công lập, cần có biện pháp chấn chỉnh giải quyết ngay những nơi không đủ chất lượng và có quy chế để ngăn ngừa hiện tượng kinh doanh giáo dục hiện nay. Ngoài ra, cần ban hành các sắc thuế khuyến khích doanh nghiệp và những cá nhân có tài sản đóng góp vô vị lợi (chủ yếu là tặng không) cho sự nghiệp giáo dục. Những vấn đề này cũng cần có kế hoạch thực hiện cụ thể trước năm 2015.
Như báo chí đã phản ảnh, Việt Nam đang có sự sự lãng phí quá lớn trong xã hội, nhất là trong nhiều hoạt động liên quan đến lễ hội, đến tổ chức khen thưởng, nhận huân chương,… và nhiều hoạt động không mang lại lợi ích thực chất cho đại đa số dân chúng. So với trình độ phát triển của Việt Nam hiện nay và so với kinh nghiệm các nước thì tiêu chuẩn chi tiêu cho xe con, cho việc đi lại của lãnh đạo các cấp ở Việt Nam rất cao, còn nhiều dư địa để tiết kiệm, cắt giảm. Thêm vào đó, cần cắt giảm ngân sách dành cho các chuyến đi tham quan, khảo sát ở nước ngoài của cán bộ, quan chức ở trung ương và địa phương, mà ai cũng thấy là ít hoặc không cần thiết.
Cần có chương trình cụ thể giản lược các hoạt động ít cần thiết nói trên và tiết kiệm ngân sách hơn nữa mới có nguồn lực cho giáo dục, đào tạo. Trong nửa đầu của thập niên tới phải thực hiện cho bằng được chính sách này mới có thể xem giáo dục, đào tạo là quốc sách hàng đầu. Ngoài ra nên tăng cường các sắc thuế đặc biệt, đánh vào giai tầng sở hữu nhiều bất động sản và tiêu thụ hàng ngoại cao cấp để có ngân sách nhiều hơn cho giáo dục.
Cần có chính sách cụ thể để đến khoảng năm 2015 giải quyết cho bằng được vấn đề bằng giả, chấm dứt tệ nạn tiến sĩ giấy, lập lại kỷ cương về bằng cấp. Cần có chương trình cụ thể cải thiện hẳn vấn đề giáo dục tại chức (chỉ đề bạt quan chức theo trình độ đang có, chấm dứt tình trạng đề bạt xong rồi cho đi học để tiêu chuẩn hóa cán bộ, chỉ dùng ngân sách cho quan chức bồi dưỡng ngắn hạn, không cấp kinh phí đi học lấy bằng cấp cao hơn).
Về nghiên cứu khoa học, đây là lĩnh vực liên quan đến nhiều ngành chuyên môn, cần lập ngay một ban tư vấn gồm các nhà nghiên cứu hàng đầu trong và ngoài nước để giúp Nhà nước rà soát lại các cơ chế liên quan đến hoạt động nghiên cứu khoa học, công nghệ và đưa ra chiến lược, chính sách nâng cao trình độ nghiên cứu và đào tạo. Nhiều ý kiến cho thấy hiện nay trình độ của ta còn thấp, mặt khác có sự lãng phí trong việc thực hiện ngân sách cho nghiên cứu khoa học. Cần có kế hoạch để khoảng năm 2015 giải quyết được các mặt yếu kém và tạo ra bước phát triển mới.
c. Cải cách chế độ tiền lương và thực hiện việc thi tuyển quan chức
Đây là vấn đề cốt lõi của mọi vấn đề. Các chính sách dù hay nhưng không thể được thực hiện có hiệu quả nếu không có một đội ngũ quan chức, một tầng lớp cán bộ hành chánh từ trung ương đến địa phương có năng lực và phẩm chất đạo đức. Họ phải là những người được tuyển chọn nghiêm túc qua các kỳ thi định kỳ và cuộc sống của họ và gia đình phải được bảo đảm bằng tiền lương. Tiền lương cũng phải đủ sức hấp dẫn người có năng lực vào bộ máy công quyền.
Nội dung các kỳ thi tuyển cho quan chức cấp trung trở xuống cũng cần chú trọng trình độ văn hóa và sự hiểu biết về luật pháp và cơ cấu hành chánh. Quan chức cấp trung ương, cũng với nội dung ấy nhưng ở trình độ cao cấp hơn và thêm các môn chuyên môn cần thiết. Trình độ văn hóa và sự khó khăn phải vượt qua các cửa thi tuyển sẽ nâng cao khí khái và lòng tự trọng của quan chức, tránh hoặc giảm được tệ nạn tham nhũng. Việc thi tuyển quan chức còn có tác dụng tạo niềm tin và động lực học tập trong giới trẻ vì ai cũng có cơ hội bình đẳng thi thố tài năng cho việc nước. Chế độ tiền lương và việc thi tuyển quan chức cần được thực hiện trong vòng 3-4 năm tới.
Chiến lược, chính sách chỉ cần xoay quanh các vấn đề cốt lõi nói trên cùng với quyết tâm thực hiện bằng các biện pháp cụ thể với lộ trình khả thi sẽ khơi dậy không khí phấn chấn, tin tưởng trong dân. Các nhà đầu tư trong và ngoài nước cũng sẽ yên tâm, tin tưởng ở tương lai kinh tế Việt Nam và sẽ tích cực đầu tư vào các lĩnh vực tận dụng các nguồn lực, nhất là nguồn nhân lực ngày càng có chất lượng cao. Qua đó, cơ cấu kinh tế Việt Nam sẽ ngày càng chuyển dịch lên cao, và sẽ đạt được mục tiêu toàn dụng lao động, tránh được khả năng rơi vào bẫy tự do mậu dịch và bẫy của nước thu nhập trung bình.
( Giáo sư Trần Văn Thọ, Nhật Bản // theo Thời báo Kinh tế Sài Gòn )
Trong khi phần lớn các nước phát triển đang chìm trong hố sâu nợ nần, Trung Quốc vẫn tiếp tục cuộc săn lùng tài nguyên trên phạm vi toàn cầu với quy mô chưa từng thấy. Những lo lắng, nghi kỵ về việc Trung Quốc “thu gom, tích trữ” tài nguyên tự nhiên trên phạm vi toàn cầu tiếp tục bùng lên sau khi Bắc Kinh đổ hàng tỉ USD vào ngành công nghiệp dầu khí Brazil.
Thời tiết bất thường, hạn hán kéo dài khiến các hồ thuỷ điện cạn nước, các dự án thuỷ điện chậm tiến độ ... là những “điệp khúc” mà Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) nhắc đi nhắc lại trong “bài ca” thiếu điện. Để rồi, kết cục là, EVN kêu lỗ tới 6.500 tỷ đồng vì phải huy động hết công suất các nguồn chạy dầu có giá thành cao gấp 3-4 lần giá bán điện bình quân.
Cùng với chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần của Đảng và Nhà nước, doanh nghiệp (DN) tư nhân, mà chủ yếu là DN vừa và nhỏ ở nước ta ngày càng phát triển, đóng góp đáng kể vào sự nghiệp chấn hưng kinh tế đất nước.
Việt Nam đang có kế hoạch đàm phán Hiệp định Thương mại Tự do Xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Partnership - TPP) với 7 nước đối tác trong đó có Hoa Kỳ.
“Sẽ làm gì - sau giám sát?” - câu hỏi đó được đại biểu Quốc hội Cao Sỹ Kiêm đặt ra khi nhận định về bản báo cáo giám sát việc quản lý và hoạt động kinh doanh của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước mà Quốc hội thực hiện cách đây nửa năm.
Vùng quê Diễn Tháp, thuộc huyện Diễn Châu, Nghệ An được mệnh danh là “xã Việt kiều Lào”. Nơi đây còn có các tên gọi khác như “làng biệt thự”, “phố đồng quê” hay “làng đồng nát”… Về Diễn Tháp, dễ thấy sự đổi thay ở vùng đất này.
Nhiều bệnh viện lớn tại TPHCM mặc dù hoạt động nhiều năm nay nhưng vẫn chưa xây dựng hệ thống xử lý nước thải y tế, hoặc đã có hệ thống nhưng xử lý chưa đạt tiêu chuẩn môi trường.
Vấn đề “tam nông” cũng được các đại biểu Quốc hội tập trung thảo luận, phân tích trong ngày làm việc 1/11 với nhiều đề xuất, kiến nghị cụ thể nhằm đẩy nhanh tăng trưởng của khu vực nông thôn.
Cải cách tiền lương là một trong những biện pháp quan trọng để hạn chế tham nhũng. Vấn đề tiền lương, mặc dù được xới lên trong nhiều cuộc hội thảo gần đây, vẫn bế tắc về phương hướng giải quyết.
Cuối năm ngoái, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) đã triển khai đề án cơ giới hóa và giảm tổn thất sau thu hoạch đến năm 2020 với số vốn đầu tư lên đến 40.000 tỉ đồng.
Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khẳng định mọi thành phần kinh tế đều được coi trọng, đồng thời thừa nhận rằng hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của khu vực nhà nước thấp hơn so với khu vực tư nhân, nhưng vẫn tiếp tục khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Câu hỏi đặt ra là liệu kinh tế nhà nước có đủ năng lực để đóng vài trò chủ đạo này hay không?
Ông Ngô Trường Thi, Phó cục trưởng Cục bảo trợ xã hội, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội cho biết phương án nâng chuẩn nghèo đã chính thức được phê duyệt và sẽ bắt đầu áp dụng từ đầu năm 2011. Như vậy, chuẩn nghèo sẽ nâng lên gấp đôi so với hiện nay.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.