Giá lương thực, thực phẩm tăng cao luôn là nỗi lo của người dân. Ảnh: Kinh Luân.
“Trong cùng bối cảnh quốc tế, nhiều chỉ số kinh tế cơ bản của Việt Nam đều kém hơn so với các nền kinh tế khác. Khả năng này chắc chắn sẽ lặp lại trong năm 2012, thậm chí còn gay gắt hơn”, theo TS. Trần Đình Thiên - Viện Kinh tế Việt Nam.
Lạm phát cao
Trong bài phát biểu tại “Hội thảo cập nhật tình hình kinh tế toàn cầu và kinh tế vĩ mô Việt Nam” do Ngân hàng ANZ tổ chức tại TPHCM hồi tuần rồi, ông Thiên cho rằng, di sản năm 2011 để lại sẽ là: xu hướng giảm tốc độ tăng trưởng, lạm phát cao, thâm hụt thương mại và thâm hụt ngân sách nặng nề, đồng tiền yếu kém. Ông lưu ý rằng đây là tình trạng đã kéo dài nhiều năm và tạo “vòng xoáy đình trệ” đi với lạm phát cao: đầu tư càng nhiều, tốc độ tăng trưởng càng giảm, lạm phát càng tăng. Mặc dù Bộ Kế hoạch và Đầu tư dự báo GDP năm tới đạt 6%, CPI dưới 10%, nhưng ông Thiên cho rằng cơ sở hỗ trợ cho tăng trưởng GDP năm 2012 nhìn chung yếu hơn so với các năm trước. Dư địa chính sách để chống lạm phát và ổn định vĩ mô bị thu hẹp đáng kể.
Thực vậy, theo Báo cáo hoạt động kinh tế và triển vọng năm 2011-2012 của Việt Nam do Ngân hàng Standard Chartered công bố gần đây, “năm 2012, Chính phủ Việt Nam sẽ phải đối mặt với những thách thức tương tự như những năm trước: áp lực mất giá tiền đồng, yêu cầu kiểm soát tốc độ phát triển tín dụng và tiền tệ trong khi vẫn phải hỗ trợ các hoạt động kinh tế khác. Nỗ lực này còn bị ảnh hưởng bởi những khó khăn của tình hình kinh tế toàn cầu và biến động xuất khẩu”. Các chuyên gia của tổ chức này cũng dự báo tỷ lệ GDP thực của Việt Nam sẽ tăng 6,3% năm 2012 và 6,5% vào năm 2013. Lạm phát dự kiến giảm xuống 19,7% trong tháng 12 và xuống một con số vào khoảng cuối quí 2-2012, đạt 11,3% trong năm tới và 8% năm 2013.
Chính phủ chỉ nên tập trung vào giảm lạm phát, không quá chú trọng tốc độ GDP, chỉ đặt mục tiêu tăng trưởng 3-4%, cùng lắm là 5%. Kiên quyết giảm thu ngân sách, trên cơ sở đó giảm chi ngân sách, giảm đầu tư công. Đó là hành động của Chính phủ nhằm tạo lòng tin cho dân và phục hồi tăng trưởng. (Phát biểu của ông Trần Đình Thiên tại hội thảo ở TPHCM ngày 15-11
“Chúng tôi kỳ vọng lạm phát sẽ quay về mức một con số vào cuối quí 2 hoặc đầu quí 3-2012. Tuy nhiên, lạm phát giảm chưa chắc đã tạo đủ điều kiện để nới lỏng các chính sách tiền tệ trong thời gian tới do còn tồn tại các áp lực mới gây mất giá tiền đồng. Tiền đồng vẫn có khả năng tiếp tục bị mất giá trong năm 2012 do tình trạng thâm hụt tài khoản vãng lai và lượng dự trữ ngoại tệ thấp”, báo cáo của Standard Chartered viết.
Trong một nghiên cứu mới đây về kinh tế Việt Nam, Ngân hàng ANZ đã nhận định rằng lạm phát của Việt Nam có nhiều khả năng sẽ đạt mức trung bình khoảng 18-19% cho năm nay. “Chúng tôi cho rằng lạm phát sẽ vẫn ở hai con số cho đến sáu tháng cuối năm 2012. Điều này có nghĩa là lạm phát vẫn là thách thức chính sách lớn nhất trong 12 tháng tới”, chuyên gia kinh tế trưởng khu vực châu Á - Thái Bình Dương của Ngân hàng ANZ, ông Paul Gruenwald, nói tại hội thảo ở TPHCM tuần qua. Ông cho rằng, các mức lãi suất chủ chốt sẽ được giữ ở mức hiện tại cho tới nửa đầu năm 2012 và sẽ chỉ được cắt giảm một khi đà tăng lạm phát về mức một con số. Và rủi ro chính vẫn là việc nới lỏng chính sách tiền tệ quá sớm. ANZ dự báo, lãi suất tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước dự kiến đạt 13,3% vào cuối năm 2011, 12,5% vào năm 2012. CPI dự kiến là 18,7% năm 2011 và 13,8% vào năm 2012.
Ông Trần Đình Thiên cho rằng năm 2012 chỉ nên đặt ưu tiên ngắn hạn giảm lạm phát xuống mức 6-7%, với các ưu tiên hành động là cải cách tiền lương và thiết lập kỷ cương hiệu lực chính quyền. Theo ông Thiên, tình thế điều hành này có thể coi là tình thế khẩn cấp và không thể diễn ra theo cách cũ, đặc biệt cần có sự phối hợp giữa chính sách tiền tệ và tài khóa, nhưng đặt trọng tâm vào tài khóa chứ không phải chỉ chính sách tiền tệ như hiện nay.
Tỷ giá: áp lực mới
Theo Ngân hàng Standard Chartered, sau một thời gian tăng mạnh từ tháng 5 tới tháng 7, tiền đồng lại phải đối mặt với những áp lực mới. Tỷ giá đô la Mỹ/đồng Việt Nam (USD/VND) trên thị trường đã lại một lần nữa lên cao hơn so với biên độ giao dịch chính thức, xoay quanh mức 21.450 đồng. Thâm hụt thương mại dừng lại ở mức 7,6 tỉ đô la Mỹ trong chín tháng đầu năm 2011 và có khả năng sẽ ở dưới mức 12-15 tỉ đô la Mỹ cho cả năm.
Cũng theo báo cáo trên, Chính phủ Việt Nam có khả năng giữ tỷ giá ở mức tương đối ổn định trong những tháng còn lại của năm, nhưng việc mất giá tiền đồng có thể sẽ tiếp tục trong năm 2012. Do đó, các chuyên gia điều chỉnh dự báo tỷ giá đô la Mỹ/đồng Việt Nam của năm tới là 21.400 đồng vào cuối quí 1 và 2-2012, sau đó sẽ là 22.000 đồng vào cuối quí 3 và 4.
Chỉ thị 1792 của Thủ tướng có thể được xem là “toa thuốc” để giải quyết căn bệnh đầu tư dàn trải hiện nay, nhưng hiệu quả điều trị còn phải chờ xem.
Các vấn đề của châu Âu và Mỹ chắc chắn ảnh hưởng tới Việt Nam dưới một số hình thức. Nhưng nếu các quốc gia Đông Á tiếp tục tìm cách để gia tăng sự thịnh vượng quốc gia trong khi tối thiểu hóa bất bình đẳng xã hội, nợ và xung đột khu vực thì Đông Á sẽ trở thành khu vực chiếm ưu thế trong nền kinh tế thế giới, GS. David Pickus bình luận.
Theo báo cáo mới nhất, ba ngành công nghiệp ngốn nhiều ngoại hối và tạo nhập siêu khủng là ôtô, điện tử và thép. Điều chắc chắn là việc đầu tư tiền bạc, công sức và ưu đãi hỗ trợ vào ba ngành này hoàn toàn không hiệu quả và không mang lại cho Việt Nam một lợi thế cạnh tranh nào trên thương trường quốc tế. Nếu vẫn phát triển theo mô hình cũ, kinh tế Việt Nam khó có được lợi thế cạnh tranh và khởi sắc thật sự. Vậy đâu là lợi thế mà Việt Nam nên tận dụng?
Tái cơ cấu toàn bộ nền kinh tế theo hướng nâng cao hiệu quả, chất lượng, sức cạnh tranh, hướng tới phát triển bền vững là chuyện lớn, dài hạn. Bản kiến nghị đầy tâm huyết của các trí thức Việt Kiều rất đáng trân trọng... Dưới đây là nội dung trao đổi của một nhà kinh tế trong nước,- GS Nguyễn Quang Thái cùng với một nhà kinh tế Việt kiều quen biết,- TS Vũ Quang Việt.
VN cần những chính sách đáng tin cậy và ổn định lâu dài thay vì những biện pháp tạm thời, cứng nhắc, ngắn hạn, có khả năng xói mòn niềm tin vào môi trường kinh doanh tại VN.
Tiềm năng chỉ là điều kiện cần. Điều kiện đủ để biến tiềm năng thành hiện thực là hiệu quả đầu tư công trên hai phương diện hiệu suất đầu tư cao và khả năng sử dụng đầu tư công để kích thích doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ phát triển. Những hiệu quả này của đầu tư công lại chỉ có thể đạt được dựa trên tiền đề cải cách triệt để doanh nghiệp nhà nước.
Tiêu thụ là đầu ra của sản xuất. Chừng nào tiêu dùng cuối cùng còn chiếm tỷ lệ cao (72%) so với GDP và tỷ lệ tiêu dùng thông qua mua bán trên thị trường trong tổng tiêu dùng tăng nhanh, thì tiêu thụ trong nước còn là động lực của tăng trưởng kinh tế.
Lạm phát tăng; rủi ro tín dụng và hoạt động ngân hàng; những vấn đề liên quan đến chính sách và điều hành kinh tế vĩ mô của Chính phủ là ba rào cảnh đối với môi trường kinh doanh của Việt Nam năm 2011 và kể cả năm tới.
Những nhận xét đại loại như trí tuệ khá, năng lực trung bình, đạo đức kém thường chỉ sử dụng trong nhà trường để đánh giá một học sinh nào đó. Một nhóm người có thể đánh giá về một con người cụ thể nào đó bằng những nhận xét tương tự. Nhưng dùng những từ đó để đánh giá một cộng đồng hoặc một quốc gia, liệu có được chăng?
Mặc dù chúng ta nói rất nhiều đến việc chuyển hướng thu hút đầu tư, nhắm tới các tập đoàn hàng đầu thế giới, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ nguồn... nhưng tiếc thay, điều đó vẫn chưa thành hiện thực. Đáng buồn hơn, có rất nhiều cơ hội để Việt Nam tận dụng và vươn lên đều bị bỏ qua.
Với hai kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội vừa được Quốc hội quyết định trong tuần qua, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đã được “chốt” ở mức tăng dưới 10% cho năm 2012 và từ 5 -7% cho năm 2015.
Kết quả của cuộc khảo sát lần thứ năm về Chỉ số kinh doanh của các DN châu Âu hàng quý do EuroCham thực hiện vào đầu tháng 10/2011 vừa công bố một lần nữa lại cho thấy mức độ tin cậy và triển vọng kinh doanh trong cộng đồng DN châu Âu tại VN vẫn tiếp tục giảm.
Để thực hiện được nhiệm vụ “tái cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng” mà Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa 11 mới đây đã đề ra, đòi hỏi sự tham gia mạnh mẽ của KH-CN, tri thức trong tất cả các giai đoạn của hoạch định chính sách, dự án, từ khâu cải cách thể chế ở tầm vĩ mô đến tầm vi mô.
Đại biểu Quốc hội Huỳnh Ngọc Ánh (TPHCM) đã dành hầu hết phần phát biểu tại thảo luận tổ về tình hình kinh tế-xã hội sáng 22-5 để phản ứng về cách điều hành thị trường vàng của Ngân hàng Nhà nước (NHNN).
Kỷ lục lạm phát của Việt Nam đã vượt qua tất cả các quốc gia trong khu vực kể từ khi đất nước tiến hành đổi mới đến nay, theo một nghiên cứu khoa học vừa công bố sáng 21-5.
Tại hội thảo chuyên đề về chính sách tiền tệ và lạm phát mục tiêu cuối tuần qua, ông Nguyễn Đức Hưởng, Phó chủ tịch Hội đồng Quản trị Ngân hàng Bưu điện Liên Việt (LienVietPostBank), đưa ra một quan điểm trái chiều.
Tại cuộc họp báo của Văn phòng Quốc hội về kỳ họp thứ 5, các câu hỏi chuyển tới Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc chủ yếu tập trung vào nội dung lấy phiếu tín nhiệm mà Quốc hội dự kiến sẽ dành khoảng 3 ngày thực hiện công việc này.
Chống tham nhũng chưa đạt mục tiêu, lấy ý kiến sửa Hiến pháp còn hình thức, doanh nghiệp nhà nước làm thất thoát tài sản nhưng xử lý trách nhiệm chưa nghiêm, thị trường vàng bất ổn... 1.724 ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân cả nước gửi tới Quốc hội tại kỳ họp thứ 5 thể hiện lo lắng ở hầu khắp các lĩnh vực.
Trao đổi với Tiền Phong, các chuyên gia cho rằng, tình hình kinh tế như viên than hồng. Để làm nguội than, phải kiểm soát chặt đầu tư công, không bơm tiền tiếp cho các “xác chết biết đi” và thực hiện nhiều biện pháp đồng bộ, mới có thể tìm ra lối thoát.
Ngày 16/5, tại buổi họp báo về 2 dự án Tổ hợp bauxit-alumin (nhôm) Lâm Đồng và dự án alumin Nhân Cơ (Đăk Nông), TS Nguyễn Tiến Chỉnh - Trưởng Ban Khoa học công nghệ và Chiến lược phát triển (thuộc Vinacomin) khẳng định, 2 dự án có hiệu quả về kinh tế. Theo tính toán sẽ nộp ngân sách 400 tỷ đồng/năm.
Dự thảo nghị định về thuế thu nhập cá nhân theo hướng chặt chẽ hơn đang được Bộ Tài chính tính toán hoàn thiện nhằm tránh thất thu thuế cho ngân sách nhà nước.
Sau một thời gian dài kiểm soát tín dụng với lãi suất cao, nhiều doanh nghiệp đã ngừng sản xuất, giải thể, phá sản, một bộ phận lớn doanh nghiệp đang nỗ lực vượt qua thời điểm khó khăn, nhưng không thể kéo dài tình trạng này hơn nữa.
Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội đã đồng ý với việc ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp đầu tư - kinh doanh nhà ở xã hội, áp dụng từ 1/7/2013, theo đề xuất của Chính phủ.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.