Tháng 11/2009, Quốc hội đã thông qua nghị quyết về chủ trương đầu tư dự án điện hạt nhân Ninh Thuận.
Theo đó, Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư dự án điện hạt nhân Ninh Thuận, gồm hai nhà máy với công suất trên 4.000 MW. Công nghệ chính là lò nước nhẹ cải tiến, thế hệ lò từ thứ ba trở lên, đã được kiểm chứng, đảm bảo tuyệt đối an toàn và hiệu quả kinh tế tại thời điểm lập dự án đầu tư. Tổng mức đầu tư của dự án khoảng 200.000 tỷ đồng (tại thời điểm lập dự án, quý 4/2008).
Năm 2014, sẽ khởi công xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1, đưa tổ máy đầu tiên vận hành vào năm 2020. Căn cứ vào tình hình chuẩn bị, Chính phủ sẽ báo cáo Quốc hội quyết định thời điểm khởi công xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 2.
Từ 27-29/5/2010, để cung cấp thông tin phục vụ cho việc thực hiện dự án điện hạt nhân Ninh Thuận, triển lãm quốc tế lần thứ 4 về điện hạt nhân sẽ được tổ chức tại Hà Nội.
Nhân sự kiện này, Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam Vương Hữu Tấn và Trưởng ban Chuẩn bị đầu tư dự án điện hạt nhân và năng lượng tái tạo (Tập đoàn Điện lực Việt Nam - EVN) Phan Minh Tuấn đã trả lời báo giới về các vấn đề liên quan đến dự án nhà máy điện hạt nhân.
Đang tích cực triển khai
Xin các ông cho biết, dự án điện hạt nhân Ninh Thuận đang được triển khai đến giai đoạn nào?
Ông Phan Minh Tuấn: Dự án đang được chuẩn bị theo quy trình chuẩn của quốc gia. Tháng 11/2009 Quốc hội đã thông qua chủ trương đầu tư và cho phép chủ đầu tư tiến hành bước theo.
Theo lộ trình chúng tôi đang ở giai đoạn báo cáo nghiên cứu khả thi. Giai đoạn này chúng tôi đang xúc tiến tìm kiếm đối tác tư vấn để thực hiện dự án. Các tham chiếu, hồ sơ yêu cầu chúng tôi cũng đã dự thảo xong, xin ý kiến đối tác có kinh nghiệm, chờ tập đoàn phê duyệt sẽ gửi cho đối tác đàm phán.
Dự kiến, thời gian tiến hành dự án đầu tư này sẽ được tiến hành trong 18-24 tháng. Sau đó, sẽ chuyển qua lựa chọn nhà tổng thầu thực hiện dự án theo hình thức chìa khoa trao tay. Mọi công việc đang được tiến hành khẩn trương.
Song song với dự án đầu tư thì một lọat công việc khác cũng đang được triển khai khẩn trương theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về kế hoạch tổng thể nhằm triển khai dự án. Gói chuẩn bị hạ tầng cơ sở chuẩn bị cho thi công cũng đang tích cực triển khai.
Dự án trung tâm tiếp xúc điện hạt nhân với dân chúng tại Phan Rang, Tháp Chàm cũng đang được xúc tiến thủ tục đầu tư ban đầu. Dự án đào tạo nhân lực cũng đang được thực hiện sớm triển khai. Các bộ, ngành khác được sự phân công cũng đang tiến hành các đề án.
Mục tiêu trong 2014 chúng ta sẽ phải tiến hành khởi công tổ máy đầu tiên theo nghị quyết của Quốc hội, và trong vòng 6-7 năm xây dựng, chúng ta phải hoàn thành và vận hành được.
Ông Vương Hữu Tấn: Ngoài ra còn có các công việc khác như xây dựng các thông tư, nghị định, cái này thuộc thẩm quyền cơ quan quản lý nhà nước phải lo, rồi ký kết gia nhập các điều ước quốc tế phù hợp với tiến độ xây dựng…
Chọn công nghệ Nga?
Xin hỏi, các cơ quan liên quan đã có thông tin cụ thể gì về công nghệ được lựa chọn?
Ông Phan Minh Tuấn: Theo báo cáo trước đây và nghị quyết của Quốc hội thì chúng ta lựa chọn công nghệ an toàn, hiện đại, và đã được kiểm chứng.
Hiện nay, EVN cũng tuân thủ hướng này của Chính phủ và Quốc hội. Chúng tôi đang bắt đầu cuộc đàm phán đối tác từ Nga, là đối tác được Chính phủ định hướng. Đây là nước sở hữu công nghệ và có bề dày về công nghệ hạt nhân vì mục đích hòa bình cũng như thương mại.
Tới nay công nghệ lò phản ứng nước nhẹ của Nga cũng đã cho thấy vận hành an toàn trong khoảng nửa thế kỷ qua. Nếu đi sâu với họ trong dự án này thì chúng ta cũng phải tuân thủ tiêu chí Quốc hội đã thông qua.
Tuy nhiên, công nghệ nào thì chúng ta phải đợi tới khi có quyết định cuối cùng chính thức được ký kết, cũng như phê duyệt của cấp có thẩm quyền. Ý tôi là hiệp định liên Chính phủ Việt - Nga với dự án điện hạt nhân Ninh Thuận. Sau hiệp định sẽ là báo cáo nghiên cứu khả thi và chìa khóa trao tay giữa chủ đầu tư và tổng thầu.
Chúng ta chờ xem, dự án đầu tư sẽ nói rất rõ, và bây giờ chúng ta đang đợi hợp tác ban hành.
Trên góc độ là các chuyên gia trong ngành, theo các ông, việc chọn Nga là đối tác - nếu được thông qua - có phải là đã tính hết các khía cạnh rồi không?
Ông Phan Minh Tuấn: Đây là bài toán được cân nhắc trong suốt thời gian dài và quyết định này được đưa ra với tính toán tổng thể tầm quốc gia với nhiều vấn đề liên quan.
Xét trên số liệu căn cứ thì công nghệ của Nga cũng là một công nghệ an toàn bậc nhất hiện nay, nếu so sánh với công nghệ khác trên thế giới, cùng là lò nước nhẹ ở Pháp, Mỹ, Trung Quốc, Nhật…
Nga có truyền thống lâu dài về vận hành an toàn. Nhiều khách hàng nước ngoài đang đặt hàng công nghệ này của Nga.
Trong dự án đầu tư tiếp theo, chúng tôi cũng sẽ phải yêu cầu các chủ đầu tư có luận cứ thiết thực để chúng ta có thể đưa ra quyết định cuối cùng. Kết quả sẽ được Thủ tướng quyết định.
Xin hỏi các ông, giả sử nếu đã chọn Nga là đối tác, việc các nước như Nhật Bản, Pháp, Trung Quốc, Mỹ… đến tham dự triển lãm lần này nên hiểu thế nào?
Ông Vương Hữu Tấn: Tổ máy số 1 mình chọn Nga rồi, còn những tổ máy số 2, 3… và nhiều cấu phần của dự án nữa, vì công trình điện hạt nhân có nhiều công đoạn… Cơ hội còn cho các nước khác.
Ông Phạm Minh Tuấn: Trong giai đoạn từ nay tới 2030 và 2050, chúng ta dự kiến phát triển từ 8 - 10 dự án điện hạt nhân, theo quy hoạch cũng phải có 8 - 10 địa điểm xây dựng. Do vậy, với các mục tiêu đó thì các đối tác khác vẫn nhiệt tình tham gia.
Danh sách tham dự lần này đều tụ tập được các "anh hào" trong lĩnh vực hạt nhân, hai "ông lớn" là Nga và Mỹ đều tham gia mạnh mẽ, Nhật, Trung Quốc cũng có mặt…
Nước được chọn phải hỗ trợ tài chính
Với sự quan tâm lớn của nhiều đối tác mạnh, các ông có đặt vấn đề tài chính trong các đàm phán, lựa chọn đối tác?
Ông Vương Hữu Tấn: Về vấn đề tài chính cho dự án, sắp tới trong việc đàm phán với Nga, vấn đề này cũng sẽ có đàm phán riêng.
Ông Phan Minh Tuấn: Tài chính cho một dự án thì rất là lớn, suất đầu tư cho một nhà máy điện hạt nhân cao nhất trong tất cả các loại hình phát điện công nghiệp hiện nay. Do đó, đây sẽ là bài toán tổng hợp.
Chúng ta hiện đang kỳ vọng lớn vào nước cung cấp dự án cho chúng ta, họ sẽ phải hỗ trợ một nguồn tài chính. Ngoài ra, chúng ta cũng phải tự lo từ 15-20% từ nguồn hỗ trợ Chính phủ, hay chủ đầu tư vay thương mại qua trái phiếu trong và ngoài nước qua bảo lãnh của Chính phủ.
Liên quan đến vấn đề xử lý chất thải hạt nhân, cách đây không lâu, Bộ Khoa học và Công nghệ cũng ký với Mỹ văn bản hợp tác về vấn đề này. Phải chăng công đoạn này là dành cho Mỹ?
Ông Vương Hữu Tấn: Văn bản Bộ Khoa học và Công nghệ ký với Mỹ là hiệp định khung gồm có nhiều vấn đề, trong đó có quản lý và xử lý chất thải. Riêng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận đã ký với Nga thì về cơ bản, phía bạn sẽ đảm bảo tiêu chí an toàn về vấn đề này.
Ông Phạm Minh Tuấn: Một trong những điều kiện mà đối tác ký kết với chúng ta là họ sẽ giúp ta quản lý và xử lý chất thải hạt nhân, cụ thể là giúp ta xây dựng chương trình quốc gia về quản lý và xử lý chất thải của nhà máy điện hạt nhân mang tính cam kết lâu dài.
Đất chiếm không nhiều, dân được hỗ trợ
Nếu theo quy hoạch sẽ phát triển 8-10 nhà máy điện hạt nhân thì diện tích đất cần sử dụng là bao nhiêu?
Ông Vương Hữu Tấn: Một nhà máy điện hạt nhân chỉ cần 300-500 ha, là những nơi mà đất đai khô cằn hoang hóa không còn canh tác được, bỏ không, nên không ảnh hưởng nhiều tới đời sống cư dân.
Ông Phan Minh Tuấn: Chiếm đất thì sơ bộ cho hai nhà máy là trung bình một tổ máy có công suất 1.000 MUW nằm trong hàng rào nhà máy vùng giới nghiêm chỉ hơn 40 ha/tổ máy. Công suất 4.000 MW thì chúng tôi rào 160 ha.
Còn về lý do an ninh an toàn thì sẽ có những vùng đệm chúng ta hạn chế dân cứ và sắp xếp dân cứ có tổ chức. Chúng tôi cũng có kế hoạch là đảm bảo những vùng đất của dân cư canh tác hạn chế tối đa ảnh hưởng, chỉ cần không được ở đó, tìm cách giữ lại những ruộng nho, ruộng lúa của đồng bào.
Các vấn đề xã hội thì Luật Năng lượng nguyên tử cũng đã nêu rõ là cư dân ở vùng có nhà máy điện hạt nhân thì sẽ dược hưởng ưu đãi cho các hạ tầng cơ sở, văn hóa, sản xuất, giáo dục cải thiện hơn. Chúng tôi cũng đang làm theo hướng đó và dự án đầu tiên phải làm mẫu cho một loạt dự án sau.
Một quan ngại khác là về nguồn nhân lực phục vụ các các dự án điện hạt nhân. Xin các ông cho biết kế hoạch cụ thể?
Ông Vương Hữu Tấn: Đào tạo nhân lực thì hiện theo quy hoạch có 7 cơ sở, gồm: Đại học Bách Khoa Hà Nội, Đại học Khoa học tự nhiên Hà Nội, Viện Năng lương nguyên tử, Viện Vật lý; Đại học Đà Lạt, Đại học Khoa học tự nhiên Tp.HCM, Đại học Công nghệ Tp.HCM, và Đại học Điện lực. Ngoài ta còn một số trường đang kiến nghị thêm vào danh sách này như Đại học Công nghệ Hà Nội, Công nghiệp Tp.HCM…
Ông Phạm Minh Tuấn: Về nguồn nhân lực, chúng ta cũng không thể cử người đi học tập ở Pháp, Nhật, Trung Quốc mãi được, mà phải tổ chức đào tạo tại chỗ. Chúng ta đang học tập các nước ngày và một số quốc gia khác để đào tạo mặt bằng kiến thức chung về năng lượng hạt nhân.
Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới vừa qua đến nền kinh tế nước ta đã cho thấy một bài học: Tăng trưởng kinh tế bền vững là giải pháp "tự vệ" hiệu quả nhất, đồng thời hạn chế được những bất ổn đối với nền kinh tế nước nhà.
Trong đơn kiến nghị ngày 15/5/2010 gửi Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan liên quan, các cơ quan báo chí, một loạt DN đồng loạt kiến nghị ba nội dung. Theo đó, tất cả đều khẳng định Bộ Tài chính đã thiếu nhất quán trong ban hành chính sách thuế, Tổng cục Hải quan thì thiếu nhất quán trong thực hiện chính sách thuế.
Làm cách nào để Việt Nam vừa có thể giải quyết được những sức ép ngắn hạn, vừa đảm bảo phát triển dài hạn? Đó là bài toán mà các chuyên gia UNDP đưa ra cho Việt Nam trong Điều tra kinh tế - xã hội khu vực châu Á – Thái Bình Dương 2010.
Không đủ nhân lực, nhưng ngành điện Bà Rịa –Vũng Tàu không chịu thuê các đơn vị có chức năng thực hiện một số hạng mục thi công, nhằm giảm bớt áp lực công việc; Bảo đảm tiến độ công trình, cấp điện phục vụ nhu cầu cấp thiết của người dân các vùng “khát điện” từ nhiều năm qua.
Ngày 5-8-2008, Nghị quyết số 26-NQ/T.Ư của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành T.Ư khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn được ban hành. Sau 20 năm đổi mới, đây là lần đầu Ðảng ta có một nghị quyết toàn diện nhất về nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong điều kiện kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế.
Nước ta giàu tài nguyên khoáng sản đến mức nào? Về việc này có lẽ nên nhắc lại một phát biểu dựa trên khoa học địa chất và ý tưởng thống kê của A. P. Aleksandrov, nguyên chủ tịch viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, theo đó trữ lượng khoáng sản của một nước nói chung tỷ lệ thuận với diện tích của nước ấy.
Việt Nam đã có bước nhảy vọt trong bảng xếp hạng về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) được công bố ngày 19/5.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 đã chỉ rõ, phải phấn đấu để Việt Nam trở thành quốc gia mạnh lên từ biển, giàu lên từ biển, trong đó kinh tế biển chiếm khoảng 53-55% GDP và 55-56% kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
Một vị lãnh đạo Bộ Tài chính cho hay, bộ này đang xây dựng kịch bản cho giá xăng dầu từ nay đến cuối năm. Ứng với 3 mốc giá dầu thô dưới 70 USD/thùng; từ 70 đến 80 USD/thùng và trên 100 USD/thùng sẽ là 3 kịch bản giá.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Những năm qua, hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT) tạo ra điều kiện thuận lợi để mở rộng thị trường cho xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ, thu hút đầu tư nước ngoài và đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.
Chưa bao giờ yêu cầu phải có quy hoạch không gian ngầm lại cấp bách như hiện nay. Bởi theo xu hướng, không gian ngầm không chỉ là các công trình hạ tầng kỹ thuật mà còn là những tổ hợp trung tâm thương mại, công trình đa chức năng... Vì thế cần gấp rút hoàn thiện cơ sở pháp lý điều chỉnh các quan hệ mới phát sinh và lập quy hoạch nhằm tạo điều kiện đẩy mạnh phát triển không gian ngầm trong tương lai.
Giai đoạn 2010-2015 sẽ thiết lập và đưa vào hoạt động 16 khu bảo tồn biển. Đến năm 2015, có ít nhất 0,24% diện tích vùng biển Việt Nam nằm trong các khu bảo tồn biển và khoảng 30% diện tích của từng khu bảo tồn biển được bảo vệ nghiêm ngặt.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.