Dự kiến, khoảng cuối năm 2011, khi hoàn thành việc nâng tĩnh không cầu Kinh Thanh Đa, lộ trình 1 (từ Linh Đông (quận Thủ Đức) về quận 1) của buýt đường sông sẽ được đưa vào hoạt động.
Đầu tháng 8.2010, UBND TP.HCM đồng ý triển khai dự án khai thác hai tuyến vận chuyển hành khách công cộng bằng đường sông (buýt đường sông) theo đề xuất của công ty TNHH Thường Nhật. Phóng viên Sài Gòn Tiếp Thị đã trao đổi với ông Nguyễn Kim Toản, giám đốc công ty Thường Nhật, chủ dự án, về loại hình vận tải công cộng mới này tại TP.HCM.
Lộ trình một tuyến buýt đường sông. Ảnh: Đào Lê
Thưa ông, cái khó của việc triển khai buýt đường sông là tĩnh không thấp của những cây cầu bắc ngang tuyến vận tải. Đơn vị của ông sẽ khắc phục điều này bằng cách nào?
Trong giai đoạn đầu, chúng tôi sẽ đầu tư xây dựng, khai thác hai lộ trình, đó là tuyến đi từ Linh Đông (quận Thủ Đức) về quận 1. Tuyến này sẽ có các bến đón khách ở các khu vực: Bình Quới, Hiệp Bình Chánh (Thủ Đức), Thanh Đa, Tân Cảng (Bình Thạnh), Tầm Vu, Thảo Điền, Bình An (quận 2), Nguyễn Hữu Cảnh (Bình Thạnh) và Bạch Đằng (quận 1). Tuyến thứ hai đi theo kênh Tàu Hũ – Bến Nghé, qua các quận: 8, 6, 5, 4 về Bạch Đằng (quận 1).
Theo đó, lộ trình 1 từ Linh Đông, Thủ Đức về bến Bạch Đằng, quận 1 đi qua ba chiếc cầu, trong đó cầu Thủ Thiêm và cầu Sài Gòn có độ tĩnh không đạt yêu cầu, riêng cầu Kinh Thanh Đa đang chuẩn bị nâng cao độ tĩnh không theo một dự án đã có từ trước của thành phố. Dự kiến, khoảng cuối năm 2011, khi hoàn thành việc nâng tĩnh không cầu Kinh Thanh Đa, chúng tôi sẽ đưa lộ trình 1 của buýt đường sông vào hoạt động. Ở lộ trình 2 đi theo rạch Bến Nghé – Tàu Hũ dọc đại lộ Võ Văn Kiệt, tất cả các cây cầu đều có độ tĩnh không đạt yêu cầu. Tuy nhiên, chúng tôi đang chờ khai thông lại dòng Bến Nghé – Tàu Hũ, nên có thể đến cuối năm 2012, lộ trình này mới được đưa vào hoạt động.
Ở hai lộ trình, khả năng chuyên chở hành khách trong một ngày là bao nhiêu, thưa ông?
Từ bắc xuống nam và từ đông sang tây có 16 bến dừng, đổ đón khách cho hai lộ trình buýt đường sông. Để làm tốt việc điều hành vận chuyển khách trong giờ cao/thấp điểm, chúng tôi sẽ tổ chức nhiều loại tàu có sức chở khác nhau, trước mắt, là loại tàu 40, 60 và 80 ghế cho cả hai lộ trình. Trong giờ cao điểm, cứ 15 phút có một chuyến buýt khởi hành và thời gian khởi hành có thể giãn ra trong thời gian thấp điểm. Tại bến đón, trả hành khách, chúng tôi sẽ bố trí chỗ cho người dân gửi xe gắn máy, chỗ ngồi nghỉ chờ tàu và giải khát...
Theo ông, buýt đường sông sẽ rút ngắn thời gian đi lại được bao nhiêu so với xe buýt đường bộ trên cùng một cung đường?
Trong giai đoạn đầu, để thu hút khách, chúng tôi phải chọn kết nối những điểm đích bằng những lộ trình đường sông không dài quá và trên cùng một cung đường, thời gian đến của buýt đường sông phải đảm bảo nhanh hơn buýt đường bộ. Chúng tôi tin đây sẽ là mô hình được người dân ủng hộ nếu hoạt động của nó an toàn, bảo vệ được môi trường và thuận tiện cho hành khách. Mặt khác, thành phố đã và đang đầu tư rất nhiều để nạo vét, chỉnh trang sông, kênh, rạch trên địa bàn. Điều đó cộng với xu hướng tìm về thiên nhiên của cộng đồng là điều kiện thuận lợi để buýt đường sông ra đời.
Trong tương lai, đơn vị ông có dự tính gì khác để phát triển việc vận tải hành khách công cộng trên sông không, thưa ông?
Chúng tôi đã có kế hoạch phát triển giai đoạn hai tuyến buýt đường sông nếu được người dân ủng hộ. Ví dụ như đầu tư mở rộng và phát triển các tuyến liên kết toàn TP.HCM với các tuyến vành đai và các đô thị khác như: Long An, Thủ Dầu Một, Nhơn Trạch, Biên Hoà, Phú Mỹ (Bà Rịa – Vũng Tàu). Lúc đó, vận tải hành khách đường sông sẽ phủ kín và phát huy hiệu quả. Ngoài ra, chúng tôi cũng đã tính đến các mô hình kinh doanh đa dạng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch và nghỉ dưỡng của người dân như tàu khảo sát, tham quan, du lịch, tàu nhà hàng v.v...
Chuyển giao lưới điện hạ áp nông thôn cho ngành Điện thống nhất quản lý sẽ giúp giải quyết dứt điểm các tồn tại kéo dài như quản lý lưới điện manh mún, thiếu tính chuyên nghiệp, năng lực tài chính và trình độ kỹ thuật hạn chế...
Một thời gian dài chúng ta quan tâm quá mức tới khía cạnh định chế: tách – nhập, giải thể, thành lập mới mà thiếu sự đồng bộ cần thiết với việc tái cấu trúc thể chế và thiết chế.
Sau 8 năm TPHCM thực hiện sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp (DN) nhà nước, hơn 300 DN đã và đang được chuyển đổi. Do thị trường bất động sản không ổn định nên việc cổ phần hóa, chuyển đổi mô hình DN gặp không ít khó khăn. Tuy nhiên, nhờ hướng đi đúng cộng với sự năng động, sáng tạo, TPHCM đã kịp thời kiến nghị Chính phủ gỡ khó, đẩy nhanh tiến trình đưa DN nhà nước thoát cơ chế “bao cấp”, đủ sức cạnh tranh theo cơ chế thị trường.
Sáng 9-9, tại Hà Nội, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội LĐ-TB&XH), Tổ chức lao động quốc tế (ILO) và Liên minh châu Âu đã tổ chức hội nghị đánh giá hiệu quả sàn giao dịch việc làm (GDVL), hoạt động của các trung tâm giới thiệu việc làm giai đoạn 2006-2010.
Việc phát động và thực hiện “tái cấu trúc doanh nghiệp” là một chủ trương lớn, rất quan trọng của Đảng và Nhà nước, có thể coi là một nội dung trọng tâm, xuyên suốt của kỳ kế hoạch 5 năm tới đây. Để góp phần nhận thức về vấn đề này, Cổng TTĐT Chính phủ giới thiệu bài viết của PGS, TS Phan Đăng Tuất, Viện trưởng Viện nghiên cứu chiến lược, chính sách công nghiệp – Bộ Công Thương.
Trong Dự thảo Chương trình phát triển công nghiệp công nghệ thông tin đến 2015, Bộ Thông tin và Truyền thông đặt mục tiêu đến 2015 sẽ đào tạo lại 50 nghìn kỹ sư trình độ cao, thông thạo chuyên môn và ngoại ngữ.
Cả nước đã có trên 1,537 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (TECHCĐB), chiếm khoảng 1,79% dân số và khoảng 6% dân số trong độ tuổi trẻ em. Trước thực tế này, Bộ Lao động–Thương binh và Xã hội chủ trương xây dựng và nhân rộng các mô hình trợ giúp TECHCĐB dựa vào cộng đồng.
Còn khá nhiều dư địa cho nỗ lực tạo ra môi trường kinh doanh thông thoáng, tiết kiệm hơn, một khi tiếp tục nâng cao tính minh bạch của hệ thống chính sách điều tiết hoạt động kinh doanh, nhất là cơ quan quản lý "rộng cửa" hơn cho cộng đồng DN tiếp cận thông tin của nhà quản lý.
“65 năm qua, từ chỗ bị bao vây cô lập, quan hệ đối ngoại của Việt Nam được mở rộng chưa từng có, ngày càng đi vào chiều sâu, góp phần quan trọng vào sự nghiệp cách mạng và thúc đẩy phát triển thương mại, đầu tư”.
Thủ tướng mong muốn, các địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long liên kết với nhau chặt chẽ hơn, huy động cao nhất các nguồn lực bên trong và bên ngoài, phát triển một cách bền vững.
Đồ án quy hoạch xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 chưa đạt yêu cầu, Hội Kiến trúc sư Việt Nam tỏ rõ quan điểm tại văn bản góp ý chính thức được gửi tới Văn phòng Trung ương Đảng ngày 26/8.
Phát triển bền vững là yêu cầu cấp thiết đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường ở nước ta đi vào CNH và hội nhập toàn cầu. Vượt qua mức thu nhập trung bình để vươn tới nước phát triển đòi hỏi chúng ta phải có chiến lược phát triển dựa vào nguồn lực con người. Ðây là nhân tố quyết định nhất đối với quá trình CNH, HÐH đất nước và bảo đảm cho sự phát triển nhanh, bền vững.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.