Sản xuất ôtô tại công ty JRD (100% vốn đầu tư Malaysia) tại Phú Yên. (Ảnh: Hồng Kỳ/TTXVN)
Các chuyên gia kinh tế cho rằng Việt Nam cần hình thành hệ thống quốc gia về đổi mới (NIS) nhằm tạo ra khuôn khổ để Chính phủ xây dựng và thực thi các chính sách tác động tới quy trình đổi mới.
Nhận định này được đưa ra trong bản báo cáo “Doanh nghiệp Việt Nam hướng tới cạnh tranh toàn cầu” tại Hội nghị lần thứ nhất “Các khuyến nghị đóng góp cho xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội Việt Nam thời kỳ 2011-2020” do Viện Chiến lược Phát triển (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) phối hợp với Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tổ chức tại Hà Nội, ngày 31/3.
Các chuyên gia cho rằng, thay đổi công nghệ không chỉ phụ thuộc vào mức chi cho hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) nhưng do mức độ cấp thiết, phải ưu tiên cho R&D.
Số liệu hiện có về chi cho R&D trong toàn nền kinh tế quốc dân cho thấy, con số này hiện chỉ chiếm 0,02% doanh thu; 0,3% lợi nhuần trước thuế và 0,18% tổng vốn đầu tư.
Đây là con số cực kỳ thấp và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ít đầu tư nhất cho R&D, còn các doanh nghiệp nhà nước đầu tư nhiều nhất cho R&D.
Đáng lưu ý, bản báo cáo này đưa ra nhận định, số liệu tổng quát cho thấy rất ít có khả năng là Việt Nam đạt được năng lực công nghệ cần thiết để dịch chuyển lên những vị trí cao hơn trong chuỗi giá trị trong tương lai gần.
Bình luận về vấn đề này, ông Trương Đình Tuyển, nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại nói, đặt yêu cầu tạo ra một hệ thống đổi mới quốc gia trong phân tích về R&D là cách đặt vấn đề đúng. Bởi lẽ, theo ông, nếu không có một tổ hợp chính sách tạo ra một hệ thống đổi mới quốc gia thì dù có đầu tư cao cho R&D thì hiệu quả thực tế vẫn thấp.
Tuy nhiên, ông Tuyển cho rằng trong hệ thống các chính sách, các tác giả chưa đề xuất chính sách nào là điều kiện tiên quyết. “Phải chăng đó là chính sách cạnh tranh,” ông Tuyển đặt câu hỏi. Bởi trong môi trường cạnh tranh, các doanh nghiệp sẽ tìm mọi cách tạo ra lợi thế so sánh mới thông qua đầu tư vào R&D.
Trong nghiên cứu, các tác giả chỉ ra doanh nghiệp Nhà nước có tỷ lệ đầu tư cao nhất cho R&D, nhưng trong phần phản biện của mình, tiến sĩ Lê Đăng Doanh lưu ý tỷ lệ đầu tư cao này chủ yếu ở các doanh nghiệp Nhà nước hoạt động trong môi trường cạnh tranh.
Để tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất ở Việt Nam, các chuyên gia kinh tế nước ngoài khuyến nghị rằng, Việt Nam cần thông qua một chiến lược công nghiệp giúp cải thiện năng lực sản xuất hiện tại và nhấn mạnh vào R&D cũng như các quy trình và sản phẩm mới.
Việt Nam phải chủ động hơn trong thu hút FDI từ các nền kinh tế thị trường tiến triển hơn - những nền kinh tế có những công nghệ tiên tiến nhất sẵn có hiện nay, để đẩy nhanh quá trình học hỏi. Chính phủ phải đảm bảo rằng FDI được thu hút vào các lĩnh vực chiến lược và thiết lập được nhiều cơ chế chuyển giao công nghệ hiệu quả hơn.
Ông John Hendra, đại diện thường trú của Liên hợp quốc tại Việt Nam cho rằng, để có thể tham gia ngày càng tốt hơn vào thị trường toàn cầu, chuỗi giá trị toàn cầu, Việt Nam cần lựa chọn những cải cách sâu rộng hơn, nâng cao khả năng cạnh tranh và mức độ tinh thông của các doanh nghiệp nhằm tạo ra nhiều công ăn việc làm, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.
Việc nâng cao chất lượng, hiệu quả đầu tư, cũng như kỹ năng của lực lượng lao động, tạo môi trưởng ổn định cho các doanh nghiệp phát triển, là những nhân tố rất quan trọng đối với Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo./.
Hiện tình hình khô hạn nghiêm trọng diễn ra trên cả nước đã ảnh hưởng lớn đến việc tích nước các hồ thủy điện. Tổng sản lượng thủy điện thiếu hụt do không tích được đầy các hồ thủy điện lên đến gần 1 tỷ kWh, gây ảnh hưởng lớn đến việc bảo đảm đủ nước cho sản xuất nông nghiệp và đủ điện cho các nhu cầu xã hội
Tuyên bố chung Hua Hin của các nước Ủy hội sông Mekong nêu 4 vấn đề quan trọng: An ninh lương thực; phát triển năng lượng và thủy điện; giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu; tăng cường sự tham gia của các tổ chức xã hội trong xây dựng kế hoạch và tiến trình ra quyết định hành động.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
“Việc chấp hành chế độ báo cáo của các bộ, ngành, địa phương và các chủ đầu tư chưa thực hiện nghiêm túc, có hiện tượng buông lỏng trong thực hiện công tác giám sát, đánh giá đầu tư”.
Kinh tế Việt Nam hiện nay có thể được mô phỏng như một người vừa ốm dậy, vẫn còn không ít bộ phận cần được chữa trị quyết liệt mới hy vọng được bình phục hoàn toàn.
Kinh tế thế giới đã có những tín hiệu tích cực trong năm 2010. Nhưng những hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính-kinh tế thế giới như tình trạng nợ nần và thâm hụt ngân sách, nạn thất nghiệp cao đang có nguy cơ đẩy một số nền kinh tế phát triển vào cuộc suy thoái mới. Để ổn định và phát triển bền vững, Việt Nam cũng như nhiều nước đều đang phải đối mặt với nhiều thách thức....
Ông Ayumi Konishi, Giám đốc Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam nhận định với dân số ước đạt khoảng 100 triệu người vào năm 2020, trong đó có tới 60% dân số ở độ tuổi lao động và tỷ lệ này sẽ còn tiếp tục kéo dài trong vòng 30 năm nữa, Việt Nam có lợi thế rất lớn trong phát triển kinh tế.
"Bẫy thu nhập trung bình" là vấn đề mà nhiều nước đang mắc phải, đặc biệt là những nước có nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam, Malaysia, Thái Lan...
Kết luận của Ban Bí thư về việc khu vực tư nhân có thể tiếp cận nguồn vốn ODA là một bước hiện thực hóa chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển một nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó khu vực tư nhân được tạo điều kiện phát triển bình đẳng, kể cả tiếp cận với các nguồn vốn.
Chia sẻ những kinh nghiệm, ý kiến tại hội nghị sản xuất tại Việt Nam, nhiều vị tổng giám đốc cho rằng, để hấp dẫn đầu tư nước ngoài, Việt Nam cần nâng cao hơn nữa nội lực cạnh tranh, nhất là vấn đề giao thông.
Sự phụ thuộc quá nhiều vào các yếu tố bên ngoài có thể giúp Việt Nam tăng trưởng tới mức thu nhập trung bình, thậm chí có thể cao hơn nữa, nhưng rất có thể cũng sẽ chỉ dừng lại ở mức đó mà thôi - hay nói cách khác là đã rơi vào “bẫy thu nhập trung bình”. Với tiêu đề “Vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam”, Hội thảo do Diễn đàn Phát triển Việt Nam (VDF) tổ chức đã thu hút nhiều chuyên gia trong nước và quốc tế tham gia.
Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng: Từ thực tế kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới việc hình thành và phát triển tập đoàn không cần phải chờ quy định pháp luật mà xuất phát từ bản thân nhu cầu phát triển kinh tế.
Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Giàu vừa trao đổi với báo chí xung quanh một số vấn đề dư luận quan tâm hiện nay như chỉ số giá tiêu dùng quý I tăng 4,12%, thanh khoản của hệ thống ngân hàng, tỷ giá, lãi suất, thị trường ngoại hối, sàn vàng. Dường như các mục tiêu kiểm soát lạm phát, tăng trưởng kinh tế, giảm thâm hụt cán cân thanh toán,... đang dồn gánh nặng lên vai chính sách tiền tệ.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.