Vì những quyết định trái chiều của Bộ Tài chính, rất nhiều xe đã nhập về nhưng không đăng ký lưu hành được
Trong đơn kiến nghị ngày 15/5/2010 gửi Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan liên quan, các cơ quan báo chí, một loạt DN đồng loạt kiến nghị ba nội dung. Theo đó, tất cả đều khẳng định Bộ Tài chính đã thiếu nhất quán trong ban hành chính sách thuế, Tổng cục Hải quan thì thiếu nhất quán trong thực hiện chính sách thuế. Đồng thời, cả hai cơ quan này đều không có hướng giải quyết các vướng mắc do chính sách thuế từ năm 2006 đến nay và do vậy “gây thiệt hại kinh tế cho các DN nhập khẩu…”.
Vấn đề là tại sao các DN lại “kết luận” như vậy với Bộ Tài chính và Tổng cục Hải quan ?
Bỗng dưng... vướng
Theo đơn của các DN, giai đoạn 2006 - 2007, dòng ôtô tải tự đổ có tổng trọng tải trên 24 tấn được Hải quan Quảng Ninh áp mã thuế nhập khẩu là 8704102110 với mức thuế nhập khẩu 10%. Tuy nhiên, cũng dòng xe này, thời điểm này, Hải quan Lạng Sơn lại áp vào mã 8704234990 với mức thuế 20%. Đương nhiên, các DN nhập khẩu không thể chấp nhận sự bất hợp lý này. Đơn kiến nghị của DN đã gửi đi. Tháng 3/2008, Tổng cục Hải quan đã quyết định: chỉ thu 10% thuế nhập khẩu với dòng xe này. Nhờ thế, theo đơn của DN, “có DN đã được hoàn thuế 10%, nhưng đa số các DN chưa được hoàn thuế”. Tới tháng 12/2010, Bộ Tài chính yêu cầu phải ghi vào tờ khai nguồn gốc nhập khẩu dòng xe này nội dung: “ôtô tải tự đổ không sử dụng trên các loại đường quốc lộ” (Công văn số 17297/BTC-TCHQ). Nhưng với cách ghi này, thì cơ quan Công an các địa phương không cho DN đăng ký lưu hành xe. Ngược lại, nếu muốn xe được đăng ký lưu hành, thì các DN phải... chuyển mã cho xe nhập khẩu. Nghĩa là, dù DN nhập xe tự đổ trọng tải lớn nhưng phải khai thuộc nhóm 8704234990 (xe tải thường), và phải nộp thuế nhập khẩu với mức... 20%.
Sau một thời gian, dường như Bộ Tài chính phát hiện những cách tính thuế nói trên đều không đúng với điều ước thương mại giữa ASEAN và Trung Quốc. Kết quả là Bộ đã ban hành Thông tư số 65/2010/TT-BTC, đưa dòng xe trên vào nhóm 8704234990 với thuế nhập khẩu là 8%.
Sửa sai... không triệt để
Tuy nhiên, cho tới thời điểm này, Bộ Tài chính đã “quên”, hoặc cố tình... lờ đi ba vấn đề. Một là: không xử lý hoàn thuế cho những DN đã phải nộp 20% thuế đã nhập khẩu xe trước thời điểm 3/2008. Hai là: không hoàn thuế cho các DN đã nhập khẩu xe sau thời điểm 1/1/2010. Và ba là: không có hướng xử lý để các xe nhập khẩu sau thời điểm 1/1/2010 nhưng trên tờ khai nguồn gốc đã bị ghi rõ: “ôtô tải tự đổ không sử dụng trên các loại đường quốc lộ”. Đặc biệt, với các xe thuộc trường hợp này, thì cho đến tận ngày hôm nay, các DN vẫn chưa thể được đăng ký để cho xe lưu hành.
Cái “quên” nữa của Bộ mà DN không nhắc tới, là với Thông tư 65/2010/TT-BTC, Bộ Tài chính đã gộp chung dòng ôtô tải tự đổ có tổng trọng tải trên 24 tấn vào những loại xe tải bình thường khác. Và do thế, nghiễm nhiên các dòng xe tải bình thường cũng được hưởng thuế nhập khẩu chỉ có... 8%. Trong khi trước đó thì tùy loại, các dòng xe tải thường phải nộp từ 20% tới 30% thuế nhập khẩu.
Tất cả những điều đó cho thấy, là với dòng ô tô tải tự đổ có tổng trọng tải trên 24 tấn, Bộ Tài chính đã quản lý nhập khẩu theo cách: “chữa” sự sai này bằng một sự sai khác. Nếu tính bình quân trị giá mỗi xe tự đổ dòng này vào khoảng 30.000 USD/xe, thì tổng số tiền của DN (thực ra là của DN nợ các ngân hàng) là vào khoảng 39 triệu USD. Ước tính, tổng số thuế các DN đang bị Bộ “hành” là vào khoảng trên dưới 50 tỷ VND.
Phải đặt câu hỏi, rằng vì sao Bộ Tài chính và Tổng cục Hải quan, với tư cách là cơ quan quản lý chuyên ngành xuất nhập nhập khẩu, lại có thể “nghiệp dư” đến thế trong quản lý nhập khẩu dòng xe ôtô tải tự đổ có tổng trọng tải trên 24 tấn nói riêng, cũng như nhập khẩu xe ôtô tải nói chung ?
Theo ước tính của các DN, hiện có khoảng 1.300 xe ô tô tải tự đổ có tổng trọng tải trên 24 tấn đang bị ảnh hưởng vì các quyết định quản lý liên quan tới thuế và xác nhận nguồn gốc của Bộ Tài chính.
Thực ra thì, trong quản lý xuất nhập khẩu, rất khó để đảm bảo mọi quyết định đều đúng. Sự sai, không chính xác khi lựa chọn quyết định quản lý sẽ xảy ra trong quá trình thực hiện quyền quản lý nhà nước. Dù không ai muốn phạm sai lầm, nhưng các cơ quan quản lý rõ ràng cần chuẩn bị sẵn tâm lý để đối diện và sửa chữa sai lầm do mình gây ra. Ở chiều ngược lại, DN cũng trông chờ vào thái độ sửa chữa sai lầm do các cơ quan quản lý đưa ra để hạn chế thiệt hại của mình.
Nói thế để thấy, với dòng xe ôtô tải tự đổ có tổng trọng tải trên 24 tấn, Bộ Tài chính đã quản lý nhập khẩu vô cùng rối rắm, và cũng không đúng. Nếu ngay từ đầu, trong quá trính nghiên cứu ban hành cơ chế quản lý, Bộ tạm thời cho phép nhập khẩu dòng xe này theo thông lệ, thì những thiệt hại của DN có thể đã được hạn chế và sự sai của Bộ có thể đã không ngày càng trầm trọng hơn.
Tiếc rằng Bộ đã không làm thế. Và do thế, vô tình Bộ đã “góp gió thành bão”, đẩy thiệt hại ngày càng trầm trọng về phía DN. Nếu hình dung mục đích quản lý là nhằm khuyến khích DN đạt hiệu quả cao hơn trong sản xuất, kinh doanh, từ đó đóng góp nhiều hơn để làm giàu cho đất nước, thì cũng có thể nói Bộ Tài chính đã bỏ rơi yêu cầu đó chỉ với mục đích không phải nhận sai về mình.
Làm cách nào để Việt Nam vừa có thể giải quyết được những sức ép ngắn hạn, vừa đảm bảo phát triển dài hạn? Đó là bài toán mà các chuyên gia UNDP đưa ra cho Việt Nam trong Điều tra kinh tế - xã hội khu vực châu Á – Thái Bình Dương 2010.
Không đủ nhân lực, nhưng ngành điện Bà Rịa –Vũng Tàu không chịu thuê các đơn vị có chức năng thực hiện một số hạng mục thi công, nhằm giảm bớt áp lực công việc; Bảo đảm tiến độ công trình, cấp điện phục vụ nhu cầu cấp thiết của người dân các vùng “khát điện” từ nhiều năm qua.
Ngày 5-8-2008, Nghị quyết số 26-NQ/T.Ư của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành T.Ư khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn được ban hành. Sau 20 năm đổi mới, đây là lần đầu Ðảng ta có một nghị quyết toàn diện nhất về nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong điều kiện kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế.
Tại diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam, một hoạt động được tổ chức trước thềm Hội nghị giữa kỳ nhóm Tư vấn các nhà tài trợ 2010 do tổ chức Tài chính quốc tế (IFC) - thành viên thuộc nhóm ngân hàng Thế giới và Bộ Kế hoạch - Đầu tư phối hợp tổ chức tại Hà Nội ngày 26/5, nhiều đại biểu cho rằng để Việt Nam nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế thì Chính phủ cần quan tâm hơn nữa đến 3 vấn đề.
Khoảng cách giàu - nghèo không phải chỉ là một chỉ tiêu kinh tế. Nó còn phản ánh sự gắn kết xã hội và là một thể hiện của sự bình đẳng trong xã hội. Khoảng cách giàu - nghèo ắt sẽ nảy sinh. Nhưng sự bền vững của phát triển ở tất cả các nước, và hơn thế nữa định hướng xã hội chủ nghĩa, không chấp nhận khoảng cách giàu - nghèo đi vào phân cực quá một ngưỡng cho phép.
Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới vừa qua đến nền kinh tế nước ta đã cho thấy một bài học: Tăng trưởng kinh tế bền vững là giải pháp "tự vệ" hiệu quả nhất, đồng thời hạn chế được những bất ổn đối với nền kinh tế nước nhà.
Nước ta giàu tài nguyên khoáng sản đến mức nào? Về việc này có lẽ nên nhắc lại một phát biểu dựa trên khoa học địa chất và ý tưởng thống kê của A. P. Aleksandrov, nguyên chủ tịch viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, theo đó trữ lượng khoáng sản của một nước nói chung tỷ lệ thuận với diện tích của nước ấy.
Việt Nam đã có bước nhảy vọt trong bảng xếp hạng về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) được công bố ngày 19/5.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 đã chỉ rõ, phải phấn đấu để Việt Nam trở thành quốc gia mạnh lên từ biển, giàu lên từ biển, trong đó kinh tế biển chiếm khoảng 53-55% GDP và 55-56% kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
Một vị lãnh đạo Bộ Tài chính cho hay, bộ này đang xây dựng kịch bản cho giá xăng dầu từ nay đến cuối năm. Ứng với 3 mốc giá dầu thô dưới 70 USD/thùng; từ 70 đến 80 USD/thùng và trên 100 USD/thùng sẽ là 3 kịch bản giá.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Những năm qua, hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT) tạo ra điều kiện thuận lợi để mở rộng thị trường cho xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ, thu hút đầu tư nước ngoài và đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.