Biến đổi khí hậu (BĐKH) đã được nhắc đến rất nhiều ở Việt Nam, một số người dân đã nghe tới cụm từ này. Nhưng, điều quan trọng nhất là chiến đấu hay thích ứng, là việc chung sống với thiên nhiên hay cải tạo thiên nhiên, khuất phục thiên nhiên thì, đến bây giờ, vẫn là một cuộc chiến thực sự giữa các chuyên gia. Trong khi đó, cuộc chiến biển và bờ vẫn tiếp diễn, nhiệt độ, thời tiết vẫn thay đổi, người dân phải làm gì?
Đê
Theo một báo cáo được công bố trong hội thảo bên lề Hội nghị thượng đỉnh LHQ về biến đổi khí hậu đang diễn ra tại Copenhagen (Đan Mạch), Việt Nam là một trong 4 nước chịu ảnh hưởng lớn nhất của hiện tượng khí hậu khắc nghiệt trong 2 thập kỷ trở lại đây.
Báo cáo chỉ số rủi ro khí hậu toàn cầu 2010 do Germanwatch, tổ chức chuyên theo dõi về vấn đề khí hậu của Đức, công bố, 10 quốc gia chịu ảnh hưởng lớn nhất gồm Bangladesh, Myanmar, Honduras, Việt Nam, Ấn Độ, Trung Quốc...
Thống kê cho thấy trong giai đoạn 1990-2008, tại các nước này xảy ra 11.000 trận bão, lũ lụt và hạn hán khiến gần 600.000 người thiệt mạng, gây thiệt hại 1.700 tỷ USD.
Đối với nước biển, lũ lụt và thủy triều, từ hàng trăm năm, thậm chí là cả ngàn năm trước, việc đắp đê trị thủy đã được xem trọng. Câu chuyện về Nguyễn Công Trứ quai đê lấn biển mà chúng tôi đã đề cập đến trong bài viết trước là một ví dụ. Có vẻ như, tại Việt Nam, trước những biến đổi của thời tiết và mối đe dọa nước biển dâng hiện nay, việc đắp đê đang ngày càng được quan tâm hơn.
TS Vũ Thanh Ca, Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý biển, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, dự báo: “Với BĐKH và kèm theo nó là sự dâng lên của mực nước biển, chắc chắn ảnh hưởng của thiên tai tại khu vực này sẽ gia tăng. Mực nước biển dâng có thể gây hậu quả nghiêm trọng tới sinh kế và cuộc sống của người dân tại khu vực ven biển. Có khả năng là các vùng đất màu mỡ sẽ bị ngập lụt hoặc nhiễm mặn. Các cánh đồng nuôi tôm, cua có thể phải di chuyển tới những nơi khác. Nghề cá ven bờ sẽ bị ảnh hưởng nặng nề. Các vùng cửa sông có thể bị thay đổi do thay đổi chế độ triều và dòng chảy. Các đầm lầy ven biển, là khu vực sinh sống của nhiều loài cua cá và chim biển, sẽ bị đe dọa do nước biển dâng…”.
Giải pháp, cũng theo TS Vũ Thanh Ca, để hạn chế các tác hại của BĐKH và nước biển dâng cần có những giải pháp đồng bộ, từ nâng cao nhận thức của cán bộ chuyên môn, người dân, trồng rừng ngập mặn, đến việc tạo sinh kế, chuyển đổi ngành nghề trong dân, tăng cường công tác vệ sinh phòng dịch… Tuy nhiên, nước biển dâng không đồng nghĩa với việc các vùng đất thấp bị ngập, nếu các vùng đất này được bảo vệ tốt bởi hệ thống đê điều.
“Các kịch bản về BĐKH nói rằng nếu nước biển dâng 1m, có thể phần lớn đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long chìm trong nước. Theo tôi, điều này chưa hoàn toàn chính xác. Các vùng đất này chỉ chìm trong nước nếu không được che chắn bằng đê” - TS Vũ Thanh Ca nêu quan điểm.
Quan điểm của TS Vũ Thanh Ca về việc làm đê trị thủy, góp phần ngăn chặn ảnh hưởng của BĐKH và nước biển dâng cũng là quan điểm của nhiều nhà khoa học và nhiều nhà quản lý về thủy lợi tại Việt Nam. Mới đây, chiều 7-12, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Trưởng ban chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH, đã chủ trì phiên họp Ban chỉ đạo về kết quả một năm của chương trình và kế hoạch triển khai các năm tiếp theo.
Tại phiên họp này, các đại biểu cho rằng để đối phó trước diễn biến của BĐKH, Việt Nam cần sớm xây dựng một quy hoạch toàn diện và một trong những mũi đột phá là các công trình thủy lợi. Theo đó, các bộ chức năng phải đánh giá lại toàn diện toàn tuyến đê sông, biển của Việt Nam để có kế hoạch xây dựng đê bê tông bền vững, cống điều tiết nước, các trạm bơm lớn thoát nước khi cần thiết…
Bao nhiêu là đủ?
Đứng dưới góc độ của một nhà nghiên cứu về sinh thái và môi trường, GS-TS Trương Quang Học, Trưởng ban Biến đổi khí hậu, Hội Bảo vệ thiên nhiên môi trường, rất lo ngại về ý kiến cho rằng cần tập trung đắp đê để ứng phó với BĐKH. “Chúng tôi - các nhà sinh thái học - và các nhà khoa học chuyên về thủy lợi hiện chưa thống nhất được quan điểm về vấn đề này. Theo tôi, ở nhiều vùng đất, việc đắp đê ngăn mặn cũng đồng thời tận diệt hệ sinh thái ngập nước tại đó. Điều này là rất nguy hiểm, khi có thể gây ra nhiều bệnh tật, làm thay đổi môi trường và hệ sinh thái, ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân.
Tôi mong rằng chúng ta có thể đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, làm cho rõ ra cần phải ứng xử thế nào cho phù hợp với từng địa phương, từng vùng đất. Nhiều chuyên gia Hà Lan từng nói rằng, mặc dù họ tự hào về hệ thống đê bao vòng quanh cả đất nước của Hà Lan, nhưng nếu cho làm lại, họ sẽ chọn một giải pháp khác. Hiện nay Liên hiệp quốc và nhóm G8 đã giới thiệu nhiều giải pháp sinh thái hơn trước để “sống chung”, chứ không chỉ là ngăn triều, chắn lũ”, GS-TS Trương Quang Học nói.
Nhà dân sống ở chân đê Bình Minh 2, huyện Kim Sơn - tỉnh Ninh Bình.
Lo lắng của ông, bên cạnh mối lo về hệ sinh thái biến đổi và những hậu quả khó lường của nó như dịch bệnh, sinh kế của người dân… còn ẩn chứa mối lo kinh phí. Việt Nam hiện nay có 3.260 km bờ biển, đi qua 29 tỉnh thành, diện tích khoảng 1,9 triệu ha, vùng ven biển vừa là khu vực tiềm năng phát triển, nhưng lại là nơi chịu nhiều biến động, thách thức và ảnh hưởng từ những tác động mạnh nhất của tự nhiên và hoạt động của con người. Chính vì vậy theo dự đoán, các vùng ven biển sẽ là nơi chịu tác động nặng nề nhất của BĐKH.
“Nếu chỉ tính các vùng ven biển này thôi, thì chúng ta phải tốn bao nhiêu tiền để đắp đê mới đủ?”, GS-TS Trương Quang Học nêu câu hỏi.
Thật khó để trả lời cho câu hỏi đó. Nhưng, có một ví dụ có thể dẫn ra để tham khảo, đó là quy hoạch thủy lợi chống ngập úng khu vực TPHCM do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phê duyệt vào cuối năm 2008. Theo đó, để chống ngập cho TPHCM, sẽ tiến hành xây dựng hệ thống cầu và cống, hệ thống đê bao... Tổng vốn đầu tư các công trình thủy lợi chống ngập theo quy hoạch này là 11.531 tỷ đồng.
Với một bờ biển trải dài đất nước, với một nền kinh tế đang phát triển, chúng ta sẽ có bao nhiêu tiền để nhân rộng mô hình ở TPHCM ra các địa phương khác? Hơn nữa, khác với một đô thị tập trung như TPHCM, nhiều nơi, người dân liệu có thể mưu sinh trong lòng chảo, giữa toàn đê với cống?
“Tư duy toàn cầu, hành động địa phương”
GS-TS Trương Quang Học nhớ rất kỹ về một mô hình người dân sống chung với lũ tại Nghệ An. Ông kể: “Người dân ở đây chuẩn bị rất kỹ để đón lũ. Những gia đình khá giả một chút thì ở nhà sàn. Ai không có điều kiện ở nhà sàn, thì họ có “vách nhà di động”. Khi lũ về, họ chỉ cần tháo khóa hay tháo các thanh ràng, là có thể kéo phên ra. Không còn vách, không còn vật cản, nước lũ cứ chảy qua bên cạnh cột nhà. Các vật dụng quý trong nhà người dân đều kê lên một tấm gỗ hình chữ thập, buộc dây vào tấm gỗ, móc qua xà (trên mái) nhà. Nước đến đâu, kéo dây, treo đồ lên đến đấy. Cơn lũ với người dân có thể còn là phù sa, là thủy hải sản hay là điều kiện để phát triển sinh kế trong năm”.
Có những mô hình sống chung với lũ tương tự như mô hình GS-TS Trương Quang Học kể, được tìm thấy nhiều nơi ở dải đất miền Trung. Cũng có những mô hình sống chung với lũ ở miền Nam, nơi mà phù sa sông Mê Kông làm tốt lúa, mùa nước nổi mang tôm cá cho Đồng Tháp Mười.
Mưu sinh ven biển, bên ngoài chân đê ở Kim Sơn - Ninh Bình.
Theo nhiều nhà khoa học, bên cạnh việc xây dựng một chiến lược tổng thể ứng phó với BĐKH cấp quốc gia, mỗi vùng đất, với đặc điểm của mình, phải tìm được cách riêng, tìm được giải pháp thích hợp nhất để sống chung với BĐKH. Nói một cách ngắn gọn, mặc dù BĐKH là vấn đề toàn cầu, tư duy toàn cầu, nhưng để thích ứng với BĐKH, rất cần những “hành động địa phương”.
Để kết thúc cho bài viết này, xin được nhìn lại Kim Sơn (Ninh Bình), vùng đất của những “chàng Sơn Tinh” lấn biển. Khi chúng tôi đến đây, người dân địa phương đang loay hoay giữa các mô hình sản xuất. Điều đau lòng nhất là vùng đất từng một thời trù phú, là điển hình sản xuất của cả vùng đồng bằng Bắc bộ bây giờ lại thất bát với nông nghiệp. Lúa nhiều sâu bệnh, nước tưới lúa giảm phù sa khiến cho năng suất thấp, cói cũng giảm sản lượng trầm trọng. Nghề nuôi tôm từng là phong trào trong những năm gần đây, bây giờ, dọc theo đê Bình Minh 1, Bình Minh 2 là rất nhiều đầm tôm bỏ hoang, mang lại cho chủ nhân của nó… nợ nần.
Chúng tôi xót cho nỗi khổ của nhiều người dân đó. Nhưng chúng tôi không dám trách chính quyền địa phương tại huyện Kim Sơn, vì nguyên nhân của những khốn khổ nơi đây có thể còn vượt tầm hiểu biết của họ. Chúng tôi cũng không dám trách các chuyên gia đang tranh luận nhau về việc nên hay không nên làm đê bao ngăn triều, chắn lũ, bởi vì nếu cứ làm mà không tìm hiểu thật kỹ thì có thể sẽ làm sai, nhưng cũng có thể nếu cứ để yên cho họ tranh luận, thì trong lúc đó xâm nhập mặn, triều cường và BĐKH đã làm nhiều, rất nhiều người, không chỉ nghèo mà còn chất chồng những bệnh tật, túng quẫn, nợ nần… Chúng tôi cũng không thể trách chính phủ, bởi rõ ràng, dù BĐKH không phải là lỗi của Việt Nam, đã có những nỗ lực của nhà nước từ việc xây dựng chương trình thích ứng với BĐKH đến việc sử dụng ngân sách, hỗ trợ các địa phương giải quyết một vấn đề toàn cầu…
Nhân nói đến toàn cầu, cứ như quan điểm “Tư duy toàn cầu, hành động địa phương” mà luận, xin lại gửi những tư duy đó đến toàn cầu. Dịp này, COP 15…
Là thành phố lớn nhất nhì Việt Nam, thành phố Hồ Chí Minh nằm ở vị trí khá thấp nên dễ dàng bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu, đặc biệt là hai hiện tượng nước biển dâng và các dạng thời tiết khắc nghiệt. Đó cũng là kịch bản chung cho toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Dù kim ngạch xuất nhập khẩu giảm sút, lượng kiều hối không bằng 2008 nhưng với chính sách kích thích kinh tế được Chính phủ triển khai ngay từ đầu năm, GDP năm 2009 của Việt Nam đã đạt con số lạc quan trong bối cảnh nền kinh tế thế giới suy giảm.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) cả năm 2009 đạt 6,88%, Chính phủ đã thực hiện được cam kết với Quốc hội, là một trong những thông tin đậm nét trên nhiều tờ báo những ngày cuối năm 2009.
Sau gần 25 năm mở cửa hướng mạnh vào xuất khẩu, lại một lần nữa tinh thần dân tộc được đặt lên hàng đầu với cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam". Đây là thời cơ lớn cho doanh nghiệp Việt tìm về thị trường trong nước.
Không có những đột biến lớn, không bất thường về quy luật, diễn biến chỉ số giá tiêu dùng năm 2009 cho cảm giác khá trầm lắng. Nhưng trong một năm nền kinh tế trầm, thăng phức tạp, CPI vẫn có sự đảo chiều tương ứng.
Theo báo cáo công bố tình hình kinh tế xã hội năm 2009 của Tổng cục Thống kê được công bố ngày 31/12, trong năm 2009, Việt Nam đã hoàn thành hai mục tiêu khó khăn là chống suy giảm kinh tế và duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế hợp lý, bền vững; đồng thời chủ động phòng ngừa lạm phát cao trở lại.
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Ông Nguyễn Tiến Thỏa, Cục trưởng Cục Quản lý giá đánh giá, tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2010 có thể đạt mức 6,5% như dự kiến, nhưng sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn, trong đó đáng chú ý là lạm phát có nguy cơ tăng cao trở lại.
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.
180 năm qua, vùng ven biển huyện Kim Sơn, Ninh Bình cứ mỗi ngày một lấn dần ra biển. Lấn riết, giờ có thêm một huyện! Tuy nhiên, điều này có vẻ gì đó… chưa ổn lắm, bởi hiện nay gần như cả thế giới đang đối mặt với một vấn đề ngược lại với Kim Sơn: biển lấn.
Các nhà kinh tế đã nhiều lần cảnh báo nguy cơ tái lạm phát cao của VN. Những căn cứ chủ yếu cho một thông điệp quan trọng như vậy là: mức tăng tín dụng nóng (trên 40%); ảnh hưởng lạm phát của nền kinh tế thế giới; nhập siêu gia tăng và đặc biệt thâm hụt ngân sách ở mức cao. Tuy nhiên, tác giả của bài viết này lại đưa ra quan điểm hoàn toàn khác biệt.
Năm 2010 là năm cuối TP.HCM thực hiện hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch 5 năm 2006 – 2010 và cũng là năm tiền đề để bước vào kế hoạch 5 năm 2010 – 2015, vì vậy nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển của thành phố trong năm 2010 là rất lớn.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.