LTS: Một tuần trước khi hội nghị thượng đỉnh về biến đổi khí hậu diễn ra ở Copenhagen (COP 15), 24 nhà báo từ 3 miền đất nước của Việt Nam đã tham dự hội thảo “Giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu vùng ven biển”, đi tìm hiểu thực tế tại vùng lấn biển nhiều nhất Việt Nam ở Kim Sơn - Ninh Bình. Chuyến đi do Diễn đàn các nhà báo môi trường Việt Nam (VFEJ) và Oxfam tổ chức, nhằm thông qua báo chí, góp thêm tiếng nói từ những người dân đang phải gánh chịu các bất thường của thời tiết, đến các nguyên thủ quốc gia, các nhà lập pháp, các doanh nghiệp hàng đầu thế giới. Đây là một trong số các bài viết nhằm “góp thêm tiếng nói” đó.
180 năm qua, vùng ven biển huyện Kim Sơn, Ninh Bình cứ mỗi ngày một lấn dần ra biển. Lấn riết, giờ có thêm một huyện! Tuy nhiên, điều này có vẻ gì đó… chưa ổn lắm, bởi hiện nay gần như cả thế giới đang đối mặt với một vấn đề ngược lại với Kim Sơn: biển lấn. Thực tế là, trong khi vấn đề biến đổi khí hậu và nước biển dâng đang ngày càng toàn cầu hóa, các “chàng Sơn Tinh” ở dải đất này cũng ngày mỗi ngày một khó mưu sinh.
Nơi Nguyễn Công Trứ... “đẻ” đất
Nhà văn Nguyễn Bắc Sơn cứ nhắc đi nhắc lại mãi rằng, cả cái huyện Kim Sơn (Ninh Bình) này là do cụ Doanh Điền sứ Nguyễn Công Trứ “đẻ” ra. Mà thật vậy. Về Kim Sơn, hỏi dân ở đây ai cũng nhận rằng như thế. Có người bảo, thời cụ Trứ đã tiến hành 4 lần quai đê lấn biển. Có người bảo mới có 3. Nhưng tựu trung ai cũng nhận rằng, đất này ngày xưa là vùng bãi bồi cửa biển, nhờ năm 1829, Doanh Điền sứ Nguyễn Công Trứ tổ chức mộ đinh, khai khẩn, quai đê giữ đất rồi đặt nên huyện Kim Sơn. Tên giữ đến tận bây giờ.
Tên thì được giữ nguyên từ ngày ấy, nhưng đất Kim Sơn giờ khác lắm rồi. So với 180 năm trước, khi huyện Kim Sơn được “cấp giấy khai sinh”, bây giờ Kim Sơn đã rộng gấp 3 lần. Con cháu của Doanh điền sứ đã thêm 3 lần thực hiện quai đê lấn biển. “Chúng tôi về đây năm 1957-1958. Việc đầu tiên thực hiện là quai đê lấn biển. Làm nhiệt tình, hăng hái lắm. Tiểu đoàn thủy lợi của Nông trường Bình Minh toàn là quân chủ lực vừa mới hạ sao”, ông Trần Trung Đính, 82 tuổi, cựu sĩ quan bộ đội Cụ Hồ, nguyên Bí thư Đảng ủy Nông trường Bình Minh, “đương kim” lão ông của thị trấn Bình Minh, nhớ lại.
Lần quai đê mà ông Đính nhắc tới được hoàn thành vào năm 1959, 6 tháng sau khi khởi công. Kim Sơn được thêm 823ha đất, chiều dài khoảng 10km, lấn vòng cung ra biển theo hình lưỡi liềm. Lúc đó, toàn bộ đất mở mang, khai khẩn được thuộc về Nông trường Bình Minh. Bây giờ, Bình Minh là thị trấn.
“Là thị trấn đặc biệt nhất của cả nước, toàn bộ diện tích đất nông nghiệp của thị trấn chúng tôi vẫn do Công ty Nông nghiệp Bình Minh quản lý và khai thác. Thị trấn có 1.161 hộ, phần lớn người dân sống nhờ nông nghiệp. Công ty Nông nghiệp Bình Minh giao đất cho dân cấy sạ. Mỗi sào Bắc bộ (360m2) như vậy thu 50kg lúa” - ông Phạm Văn Nghiêm, Chủ tịch UBND thị trấn Bình Minh, khái quát.
Theo ông Nghiêm, thị trấn Bình Minh mới bắt đầu trồng lúa được từ sau năm 1980, tức là mất khoảng 20 năm ngọt hóa kể từ khi những người lính “hạ sao” như ông Đính quai đê lấn biển thành công. Đất lấn biển là đất phù sa sông bồi đắp mà thành, nên khi ngọt hóa thành công, lúa trồng cứ xanh mướt mắt. “Ngày trước, nông dân ở đây hầu như chẳng phải bón phân cho lúa. Nước tưới cũng lấy từ biển. Trong con nước lên của thủy triều, những nông dân kinh nghiệm chọn lấy vùng nước đỏ, đục ngầu phù sa mà lấy. Đó là nước ngọt của sông” - ông Nghiêm kể.
Những câu chuyện của ông Nghiêm là có cơ sở. Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, Kim Sơn cùng với Hải Hậu (Nam Định) và Tiền Hải (Thái Bình) là những đơn vị đầu tiên đạt năng suất lúa 5 tấn/ha của đồng bằng Bắc bộ. Kinh tế nông nghiệp của Kim Sơn giữ vị trí quan trọng, chiếm gần 1/3 tổng sản lượng lúa của tỉnh Ninh Bình, một trong những “vựa lúa” của đồng bằng sông Hồng. Đáng tiếc là, việc trồng lúa ở Bình Minh bây giờ không còn được như trước.
“Những năm gần đây nước mặn xâm nhập vào ngày một sâu hơn, nông dân huyện gặp rất nhiều khó khăn trong sản xuất. Các đợt triều lên cũng không còn tìm thấy những cơn sóng đỏ quạch phù sa để lấy nước tưới lúa như ngày trước. Chúng tôi thấy rất nhiều bất thường khác của thời tiết: thời gian chiếu sáng của nắng tăng, nhiệt độ tăng dần, mùa đông bớt, sâu bệnh gia tăng…”, Chủ tịch thị trấn Phạm Văn Nghiêm buồn bã nói.
Với một chủ tịch thị trấn như ông Nghiêm, trước các hiện tượng này, một câu hỏi tại sao có lẽ là quá khó. Chỉ có điều, với những người dân địa phương đang khốn đốn với bất thường của biển và trời, chuyện mùa màng - sinh kế, không hỏi chủ tịch, hỏi ai?
Đê Bình Minh 3 đang được các “Sơn Tinh” thời nay hối hả xây dựng, tiếp tục lấn biển ở Kim Sơn - Ninh Bình. Ảnh: VÂN HÀ
Biển và bờ
Theo các nhà khoa học, dù Kim Sơn, Ninh Bình là một vùng đất đặc biệt, dù sự bồi tụ hàng năm của sông Càn và sông Đáy vẫn giúp nơi đây lấn ra biển 80-100m mỗi năm, nhưng ở chiều hướng ngược lại, sự nóng lên toàn cầu và nước biển dâng vẫn khiến nước biển “tấn công” vùng đất này theo chiều ngược lại. Đặc biệt, do là một vùng đất thấp ven biển, Kim Sơn nằm trong các khu vực dễ bị tổn thương, ảnh hưởng nhất bởi biến đổi khí hậu.
TS Vũ Thanh Ca, Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý biển, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, nhận định: “Tại khu vực ven biển nước ta đang có hàng loạt vấn đề cần được giải quyết như thiên tai có nguồn gốc biển (bão, nước dâng, sóng lớn, triều cường…), ngập lụt, xói lở bờ biển, xâm nhập mặn, ô nhiễm và suy thoái môi trường… Theo nhiều kết quả nghiên cứu trên thế giới, biến đổi khí hậu và nước biển dâng sẽ làm trầm trọng các vấn đề trên”.
Một vấn đề quan trọng khác là nước biển, theo tính toán của các nhà khoa học, có thể dâng tới cả mét trong vòng 100 năm nữa. Mà cần gì tới 1m, chỉ cần 40-70cm là nếu không có đê, cả vùng đồng bằng rộng lớn của Kim Sơn sẽ chìm trong nước. Mà cũng chẳng riêng gì Kim Sơn, các chuyên gia có nhiều kịch bản khác nhau, nhưng nếu mực nước biển dâng 1m, dự báo “bèo bèo” thì Việt Nam cũng có thể có hơn 5% diện tích bị chìm trong nước, làm ảnh hưởng đến 11% dân số, 7% sản lượng nông nghiệp và làm giảm 10% GDP.
Theo các chuyên gia nước ngoài, nếu sử dụng số liệu địa hình số để mô phỏng ngập lụt do nước biển dâng 1m, thì đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Mekong là 2 khu vực chịu ảnh hưởng mạnh mẽ nhất. Các kết quả mô phỏng của Viện Nghiên cứu quản lý biển sử dụng mô hình số độ cao cũng cho kết quả tương tự. Và vì vậy, vấn đề thích ứng với biến đổi khí hậu, “cuộc chiến” giữa biển và bờ đã là cuộc chiến của thế giới, của quốc gia…
Nhưng, khi các nhà khoa học nói về những biến đổi của thời tiết ở tầm vĩ mô như vậy, khi ở Copenhagen, Đan Mạch, các đoàn đại biểu đến từ 192 quốc gia và hơn 110 nhà lãnh đạo trên thế giới bắt đầu Hội nghị cấp cao LHQ về biến đổi khí hậu, thì ở vùng biển Kim Sơn, cuộc chiến giữa biển và bờ vẫn tiếp diễn, theo cách cha ông đã làm từ gần 200 năm trước. Lần này, sau khi đã lấn biển thành công với đê Bình Minh 1 để tạo nên thị trấn, sau khi, gần 20 năm trước quân đội lại giúp dân lấn biển thành công lần thứ 2 với đê Bình Minh 2 để tạo nên 3 xã Kim Đông, Kim Hải, Kim Chung, một con đê Bình Minh 3 lại đang hối hả được xây dựng…
Trên thế giới, “Thủy Tinh” đang gầm gừ dâng nước. Ở vùng đất thấp và nhỏ của huyện Kim Sơn này, các “Sơn Tinh” liệu có an cư lạc nghiệp với những vùng đất mới được nữa chăng?
Khi chúng tôi đến vùng lấn biển nhiều nhất Việt Nam này, đồng bằng Bắc bộ đang gặp một cơn đại hạn. Theo các chuyên gia, hơn 100 năm qua, khu vực này mới có một lần hạn hán lớn thế này. Nguyên nhân, theo họ, một phần do biến đổi khí hậu và những bất thường của thời tiết hiện nay.
Còn tại địa phương, ông Đinh Văn Đức, Phó Chánh văn phòng Sở NN-PTNT Ninh Bình, cho biết: “Trong những năm gần đây, tại Ninh Bình các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão lũ, ngập úng xói lở xâm nhập mặn có dấu hiệu gia tăng. Các sự khác thường của thời tiết đã làm mùa mưa bão có chiều hướng đến sớm và kết thúc muộn hơn. Nắng nóng kéo dài làm xuất hiện hiện tượng tảo nở hoa, sứa rêu làm môi trường ô nhiễm… khiến các đầm nuôi tôm sú bị chết hàng loạt”.
Trong cái xu thế chung đáng buồn ấy, nhiều người dân ở dải đất “Sơn Tinh” mà chúng tôi gặp, nét khắc khổ hằn rõ trên khuôn mặt. Năm nay, lúa, cói, tôm đều bại nhiều hơn thắng…
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.
Ông Nguyễn Tiến Thỏa, Cục trưởng Cục Quản lý giá đánh giá, tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2010 có thể đạt mức 6,5% như dự kiến, nhưng sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn, trong đó đáng chú ý là lạm phát có nguy cơ tăng cao trở lại.
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Theo báo cáo công bố tình hình kinh tế xã hội năm 2009 của Tổng cục Thống kê được công bố ngày 31/12, trong năm 2009, Việt Nam đã hoàn thành hai mục tiêu khó khăn là chống suy giảm kinh tế và duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế hợp lý, bền vững; đồng thời chủ động phòng ngừa lạm phát cao trở lại.
Các nhà kinh tế đã nhiều lần cảnh báo nguy cơ tái lạm phát cao của VN. Những căn cứ chủ yếu cho một thông điệp quan trọng như vậy là: mức tăng tín dụng nóng (trên 40%); ảnh hưởng lạm phát của nền kinh tế thế giới; nhập siêu gia tăng và đặc biệt thâm hụt ngân sách ở mức cao. Tuy nhiên, tác giả của bài viết này lại đưa ra quan điểm hoàn toàn khác biệt.
Năm 2010 là năm cuối TP.HCM thực hiện hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch 5 năm 2006 – 2010 và cũng là năm tiền đề để bước vào kế hoạch 5 năm 2010 – 2015, vì vậy nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển của thành phố trong năm 2010 là rất lớn.
Có những cơ sở để khẳng định Kinh tế Việt Nam sẽ đạt tăng trưởng cao trong 2010, tuy nhiên cũng không thể lơ là các cân đối vĩ mô để giữ ổn định kinh tế và tránh lạm phát cao. Bên cạnh đó, kinh tế Việt Nam liệu có tránh được các hệ lụy tác động từ kinh tế thế giới vẫn còn đầy bất ổn và nhiều rủi ro ?
Là tỉnh có đường biên giới giáp Vương quốc Campuchia dài nên quan hệ giao thương giữa Việt Nam và Campuchia qua các cửa khẩu tại An Giang là rất lớn. Với những tiềm năng sẵn có cùng những định hướng phát triển đúng đắn, kinh tế biên mậu đang được tỉnh An Giang khai thác hiệu quả và là cửa ngõ để đưa hàng Việt Nam ra nước ngoài.
Hà Nội là thị trường lớn tiêu thụ các sản phẩm thức ăn chăn nuôi (TĂCN) cũng là nơi tập trung nhiều doanh nghiệp (DN) sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực này. Những năm qua, việc kiểm soát, quản lý chất lượng các sản phẩm TĂCN được quan tâm song vẫn còn nhiều bất cập.
Mặc dù khủng hoảng kinh tế thế giới còn trầm trọng, các nước giàu mạnh đang đầu tư ưu tiên vào việc đổi mới và nghiên cứu để có thể cạnh tranh trên thị trường. Hiện nay, những lĩnh vực then chốt, thuộc kinh tế xanh, được các nước giàu mạnh tập trung sức lực đầu tư là:
Việc phải đối phó với tình trạng nhiều giá ở nhiều khu vực thị trường đã khiến doanh nghiệp tốn thêm nhiều chi phí, mà cuối cùng là giá thành cao, nền kinh tế kém cạnh tranh, và người tiêu dùng trong nước phải gánh các chi phí này.
Chỉ còn ít ngày nữa là năm 2009 kết thúc. Một năm khó khăn với các doanh nghiệp, nhất là với ngành kinh tế chủ lực cung cấp điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống sinh hoạt của nhân dân. Khép lại một năm khó khăn, đồng thời khép lại chặng đường 55 năm xây dựng và phát triển - quãng thời gian không dài nhưng đủ để cho ngành điện nhìn lại quá khứ để vươn lên; một thời gian không ngắn đủ có cơ hội thay đổi tư duy để đáp ứng thị trường.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.