Năm 2006 - năm đầu của kế hoạch 5 năm 2006 - 2010, sau khi tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm sút từ năm 1999 đến 2004, bắt đầu phục hồi năm 2005, tiếp tục phát triển năm 2006 với tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng 8,23%, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 16,8%, kim ngạch xuất khẩu tăng 22,7%, vốn đầu tư trực tiếp nước ngồi (FDI) thực hiện tăng 24,2% so với năm trước.
Năm 2007, cả nước đứng trước thời cơ mới khi Việt Nam là thành viên thứ 150 của WTO, là năm chính quyền các tỉnh, thành phố được Thủ tướng Chính phủ phân cấp mạnh mẽ quyền quản lý nhà nước, nhất là đối với việc cấp phép đầu tư, kể cả FDI. Nhiều ý tưởng mới, sáng kiến của địa phương đã nở rộ; hàng chục khu cơng nghiệp mới được thành lập.
Năm 2008 là năm khá đặc biệt trong hơn 20 năm nước ta chuyển hướng theo kinh tế thị trường.
Nửa đầu năm phải đối phó với tình trạng lạm phát cao, Chính phủ áp dụng nhóm 8 giải pháp theo hướng thắt chặt tín dụng, kiểm soát lưu thông tiền tệ.
Gần nửa cuối năm, chịu ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, Chính phủ chủ trương ưu đãi tín dụng, bơm tiền vào lưu thông và đầu tư. Đó là 2 nhóm giải pháp đối lập với nhau đã được áp dụng vào hai nửa của năm 2008.
Năm 2009, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu tác động tiêu cực đến tình hình kinh tế - xã hội của nước ta, trong đó có FDI.
Từ quý I đến quý III, tốc độ tăng trưởng kinh tế, sản xuất và kinh doanh, xuất khẩu và đầu tư giảm sút nghiêm trọng, nhưng do kết quả các giải pháp của Chính phủ, cùng với sự biến động của kinh tế thế giới theo hướng tích cực, quý IV đã có xu hướng hồi phục, GDP tăng 5,32%.
Tóm lại, trong 4 năm vừa qua, tình hình kinh tế nước ta biến động, 2 năm đầu tăng trưởng ổn định với khí thế hào hứng trong khi chuẩn bị và gia nhập WTO, 2 năm sau gặp nhiều khó khăn do lạm phát cao và chịu tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu.
Thực trạng đó đã đặt ra nhiều vấn đề kinh tế vĩ mô, nhất là điều hành của Chính phủ trong tình hình thế giới và trong nước biến động khó lường, không một dự báo nào có thể bảo đảm tính chính xác.
Vì vậy, các giải pháp phải kịp thời thay đổi nhờ các cảnh báo sớm và đáng tin cậy, trong đó chính sách tiền tệ - tín dụng, lãi suất, tỷ giá và hoạt động của hệ thống ngân hàng đóng vai trị ngày càng quan trọng.
Hai nhân tố ảnh hưởng đến Việt Namnăm 2010
Năm 2010 là năm cuối của thập niên đầu thiên niên kỷ mới, năm kết thúc chiến lược kinh tế - xã hội thứ hai kể từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới 2001-2010, năm chuẩn bị Đại hội lần thứ XI của Đảng ta và soạn thảo chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 với mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam về căn bản trở thành nước công nghiệp hóa theo hướng hiện đại.
Chính phủ đã báo cáo và Quốc hội đã thông qua kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2010 với tốc độ tăng trưởng GDP 6,5%.
Những chỉ tiêu kế hoạch trong từng thời kỳ có tầm quan trọng đối với một quốc gia nhưng cũng mới là định hướng, bởi vì nhiều nhân tố khó dự báo đang ở phía trước; như năm 2009 do cơ chế thông qua quyết định kế hoạch nằm ở Quốc hội nên Chính phủ đã phải trình Quốc hội điều chỉnh ngay khi các chỉ tiêu tăng trưởng vừa mới được thông qua (!).
Năm 2010, GDP tăng trên hay dưới 6,5% tùy thuộc vào hai nhân tố: 1) biến động tình hình thế giới và quan hệ đối ngoại của Việt Nam; 2) thiên tai, dịch bệnh và điều hành kinh tế vĩ mô của Chính phủ.
Nhân tố thứ nhất, thế giới trong năm 2010 sẽ diễn ra theo chiều hướng nào?
Mặc dù vẫn có ý kiến cảnh báo rằng, đừng quá lạc quan với tình hình kinh tế thế giới trong năm 2010, bởi còn nhiều nguy cơ tiềm ẩn do cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới để lại, nhưng phần lớn dự báo đều theo chiều hướng tích cực.
Theo dự báo mới nhất của Quỹ Tiền tệ thế giới (IMF), tăng trưởng kinh tế của các nước phát triển năm 2010 đạt 1,3% (trong đó Mỹ 1,5%, Nhật Bản 1,7%, các nước khu vực đồng euro 0,3%), của các nước đang phát triển trên 5%, của châu Á 7,3%. Trung Quốc vẫn giữ kỷ lục thế giới về tốc độ tăng trưởng 9%, Ấn Độ 6,4%.
Phần lớn các nước đều cơ cấu lại nền kinh tế, điều chỉnh định hướng phát triển bao gồm chiến lược đối ngoại, để khắc phục những nhược điểm đã được bộc lộ rõ hơn trong khủng hoảng. Các tập đoàn lớn (TNCs) cũng cấu trúc lại doanh nghiệp, điều chỉnh hoạt động kinh doanh và đầu tư trên cơ sở đánh giá lại các thị trường tiềm năng.
Từ trong khủng hoảng, đã có những đòi hỏi đầy trọng lượng về việc cấu trúc lại các định chế tài chính quốc tế, nhất là IMF và WB, sửa đổi một số thể chế quốc tế theo hướng bảo đảm công bằng hơn khi tỷ trọng GDP của các nước đang phát triển, trong đó có bốn nước lớn mới nổi - Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc (BRIC) tăng lên rõ rệt trong tổng GDP toàn cầu; cần có giải pháp để thay thế vai trị của USD trên thế giới.
Có thể khẳng định rằng, năm 2010 là năm mở đầu cho kinh tế thế giới được cấu trúc lại trong phạm vi từng quốc gia và các định chế toàn cầu để thích ứng với tình hình sau khủng hoảng. Thế giới cũng phải đối phó với nhiều vấn đề cũ và mới.
Mặc dù kinh tế có dấu hiệu phục hồi, nhưng nạn thất nghiệp trở thành vấn đề lớn của nhiều nước.
Bóng ma thiếu lương thực lại xuất hiện, Tổ chức Nông lương thế giới (FAO) công bố số liệu 1,02 tỷ người trên hành tinh đối mặt với nạn đói, tăng 100 triệu người so với năm trước, đang đe dọa mục tiêu thiên niên kỷ của thế giới đã được các nước cam kết từ năm 2000 là năm 2015 giảm 1/2 số người đói nghèo toàn cầu.
Thị trường thế giới sẽ được phục hồi, nhưng giá cả nhiều hàng hóa sẽ biến động mạnh. Trong khi đó, thị trường tiền tệ thế giới biến động theo chiều hướng nào trong năm 2010 còn tùy thuộc vào hoạt động của các ngân hàng trên toàn cầu, trong đó không ít ngân hàng lớn bị phá sản trong thời kỳ khủng hoảng.
Cùng với các vấn đề kinh tế, mặc dù trong năm 2009, tình hình chính trị thế giới đã xuất hiện một số dấu hiệu tích cực, nhiều hội nghị thượng đỉnh toàn cầu đã được tổ chức, nhưng bất ổn về chính trị vẫn chứa đựng nguy cơ tiềm ẩn, vấn đề hạt nhân ở bán đảo Triều Tiên và quan hệ liên Triều, chiến tranh ở Afganistan, an ninh ở Iraq, các vụ khủng bố đẫm máu ở Philippines, quan hệ căng thẳng giữa Thái Lan và Campuchia…
Tình trạng nóng lên của trái đất đã được người dân trên thế giới hy vọng về giải pháp toàn cầu thông qua 15.000 người đến tham dự Hội nghị thượng đỉnh thế giới tại Copenhagen (Đan Mạch), nhưng do bất đồng giữa các quốc gia giàu và nghèo chưa được giải quyết, nên chỉ đạt được một thỏa thuận không mang tính ràng buộc, mà Tổng thư ký Liên hiệp quốc Ban Ki Mon đánh giá "chỉ là một bước khởi đầu cho một hiệp định ràng buộc về cắt giảm khí thải nhà kính".
Những năm gần đây, người Việt Nam rất phấn khởi và tự hào về vị thế nước ta đã được nâng lên rõ rệt trong ASEAN, ở châu Á và trên thế giới. Năm 2009, một số nước đã nâng lên tầm quan hệ chiến lược trong quan hệ với nước ta.
Vấn đề đặt ra cho năm 2010 và các năm tiếp theo là điều chỉnh chiến lược đối ngoại đối với từng lĩnh vực, như thương mại, đầu tư, ODA, du lịch, dịch vụ; từng đối tác song phương như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, EU, Nga, Ấn Độ, Hàn Quốc và đa phương, mà quan trọng nhất là chuẩn bị tốt nhất hành trang của đất nước để bảo đảm lợi ích dân tộc và hiệu quả kinh tế - xã hội trong quá trình xây dựng Cộng đồng ASEAN bắt đầu từ năm 2015, tận dụng tốt nhất cơ hội khi đã là thành viên WTO, góp phần tích cực vào việc nghiên cứu về ý tưởng biến APEC thành FTA châu Á - Thái Bình Dương, cũng như ý tưởng hình thành FTA Đông Á.
Những vấn đề khái quát hóa trên đây mới chỉ gợi ra một số nét chấm phá về thế giới. Để có thể hoạch định chiến lược phát triển kinh tế nước ta thì cần có những nghiên cứu toàn diện và chuyên sâu từng chiều cạnh của tình hình, mới có được những dữ liệu làm cơ sở khoa học cho các dự báo kinh tế.
Nhân tố thứ hai, điều kiện tự nhiên như bão lụt, hạn hán, nhiệt độ trái đất tăng lên, nước biển dâng cao, dịch bệnh khó lường trước; vấn đề đặt ra là chủ động các giải pháp phòng, tránh, mà những năm vừa qua nước ta đã thực hiện khá thành công, được dư luận thế giới đánh giá cao. Các giải pháp đó cần được hoàn thiện từ cảnh báo sớm đến phòng tránh và ứng phó kịp thời, trong đó cần dành đủ vốn đầu tư để hiện đại hóa các trang thiết bị của những cơ quan chức năng.
Bốn vấn đề tồn tại cần được tháo gỡ
Từ kinh nghiệm của hai năm vừa qua, có thể khẳng định rằng, việc điều hành kinh tế vĩ mô của Chính phủ đóng vai trị quyết định tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Một là, thể chế kinh tế cần được hoàn chỉnh nhanh hơn và đồng bộ hơn. Năm 2010 là năm thứ tư kể từ khi Việt Nam là thành viên chính thức của WTO, đồng thời là năm nước ta tiến gần hơn thời điểm về cơ bản bỏ hàng rào quan thuế để thực hiện cam kết trong khung khổ Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), tuy thế vẫn còn không ít vấn đề cần giải quyết về thể chế kinh tế theo hướng tự do hóa thương mại và đầu tư.
Trở ngại lớn nhất là quan điểm, nhận thức không thống nhất giữa các cơ quan hoạch định chính sách đã làm nảy sinh tình trạng "ông chẳng bà chuộc" trong các văn bản pháp luật, tính hệ thống - một nhược điểm lớn của luật pháp nước ta tuy đã được phát hiện từ nhiều năm nay nhưng xem ra vẫn chưa được khắc phục.
Chủ trương phân cấp cho chính quyền tỉnh, thành phố cấp phép các dự án FDI làm cho tính năng động, sáng tạo và quyền tự chủ của địa phương được đề cao, nhưng cũng đã nảy sinh nhiều vấn đề, nhất là vì lợi ích cục bộ của địa phương đã phá vỡ tính thống nhất của nền kinh tế quốc dân.
Hai là, cơ sở hạ tầng kỹ thuật cần được hiện đại hoá nhanh để đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế và đời sống xã hội. Cũng vẫn là chuyện cũ được lặp lại: đường bộ, đường sắt, cảng biển…, những vấn đề đã được đề cập đến từ những năm giữa thập niên 90 của thế kỷ trước.
15 năm đã qua, nhưng hệ thống giao thông của nước ta dường như chuyển động rất chậm, chưa có được một con đường cao tốc đúng nghĩa, tốc độ của đường sắt vẫn vào loại chậm nhất thế giới. Trong khi xe cộ, hàng hoá, du lịch tăng nhanh thì tình trạng ách tắc giao thông, chậm trễ giải phóng hàng hoá ở cảng biển trở nên nghiêm trọng hơn.
Ba là, lợi thế nguồn nhân lực dồi dào, giá nhân công thấp cần được chuyển sang nguồn nhân lực có trình độ cao. Việc lôi kéo những tập đoàn lớn, công nghệ cao như Intel, LG, Canon… vào nước ta là một thành công đối với FDI, nhưng cũng đặt ra vấn đề nghiêm túc cho đất nước là phải thật sự chuyển hướng hệ thống đào tạo đại học, chuyên nghiệp và dạy nghề để đáp ứng được nhu cầu về công nhân lành nghề, kỹ sư, cán bộ quản lý.
Sự chậm trễ của ngành giáo dục là nguyên nhân chính làm nảy sinh nhược điểm mới về nguồn nhân lực của nước ta, mà nếu không sớm được khắc phục thì có nguy cơ dẫm vào vết xe đổ của một số nước đi trước là đất nước sẽ sập bẫy của các quốc gia thất bại, khi đã vượt ngưỡng của nhóm nước có thu nhập thấp của thế giới mà tăng trưởng kinh tế vẫn dựa trên cơ sở thâm dụng vốn và lao động.
Bốn là, xây dựng có hiệu lực hơn "nhà nước pháp quyền, của dân, do dân và vì dân". Những tiếng kêu từ người dân bình thường và các doanh nghiệp về thái độ hách dịch, cửa quyền, sách nhiễu, tham nhũng của công chức là quá nhiều và quá phổ biến. Chủ trương cải cách nền hành chính quốc gia đã được coi như một nhiệm vụ quan trọng từ nhiều năm nay, nhưng xem ra những tiến bộ vẫn còn quá ít và tiếng kêu thì vẫn còn nhiều (!).
Tính nghiêm trọng của vấn đề có liên quan đến tương lai của quá trình phát triển đất nước, bởi đã có những tính toán cả về khoản chi phí khổng lồ đã bị đánh mất, cũng như sự giảm sút vài ba điểm phần trăm tăng trưởng kinh tế do bộ máy công quyền gây ra.
Đã đến lúc một vị Bộ trưởng trình Quốc hội về Chiến lược phát triển ngành, ví dụ về giao thông thì không chỉ là mục tiêu đến năm 2030 nước ta có 5.000 km đường cao tốc, bởi vì mục tiêu xa vời đó không có ai chịu trách nhiệm cả. Đến lúc đó, những thành viên Chính phủ và các đại biểu Quốc hội đã nghỉ hưu. Quan trọng hơn là vị Bộ trưởng phải cam kết với Quốc hội và toàn dân năm 2010 làm mấy trăm km đường cao tốc, đến cuối năm trình Quốc hội kết quả.
Có như vậy, các vị Bộ trưởng mới có điều kiện cụ thể chịu trách nhiệm trước Quốc hội và Quốc hội mới có thể giám sát công việc điều hành của Chính phủ, kể cả việc bỏ phiếu tín nhiệm các thành viên Chính phủ.
Đó là 4 vấn đề chủ yếu đã tồn tại từ nhiều năm đang đòi hỏi những giải pháp hữu hiệu hơn để giải quyết nhanh chóng và cơ bản.
Thời điểm nhìn lại lý thuyết phát triển và chính sách kinh tế của đất nước
Cũng như nhiều nước trên thế giới, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã tác động tiêu cực đến kinh tế - xã hội của nước ta, đồng thời làm bộc lộ rõ hơn những nhược điểm cố hữu đã tồn tại trong thời hưng thịnh.
Do vậy, sau khủng hoảng là lúc nhìn lại lý thuyết phát triển và chính sách kinh tế của đất nước, cơ cấu lại nền kinh tế quốc dân, hướng tới những mục tiêu kinh tế - xã hội cao hơn và được thực hiện có hiệu quả hơn.
Chiến lược 2011- 2020 được hình thành như thế nào tùy thuộc vào việc tổng kết và giải quyết những vấn đề đã được phát hiện về tính kém hiệu quả của mô hình tăng trưởng trong thập niên đầu của thế kỷ XXI.
Không dễ giải quyết trong một vài năm các nhược điểm về cơ cấu kỹ thuật, vùng lãnh thổ, thành phần kinh tế của nước ta, nhưng cũng không thể không tìm mọi giải pháp với quyết tâm chính trị cao để trong một thời gian nhất định nền kinh tế nước ta có được cơ cấu hiện đại và hợp lý, hiệu quả kinh tế - xã hội cao, sản phẩm Việt Nam có năng lực cạnh tranh trên thị trường thế giới.
Những vấn đề đó có liên quan đến việc chuyển nhanh hơn và đồng bộ hơn từ tăng trưởng theo chiều rộng, dựa trên thâm dụng vốn và lao động sang tăng trưởng theo chiều sâu là chủ yếu, nhờ vào khoa học và công nghệ với nguồn nhân lực có trình độ cao.
Do vậy, thể chế Nhà nước, khoa học và công nghệ, đào tạo và giáo dục trở thành những nhân tố quyết định cơ cấu kinh tế hiện đại và hiệu quả.
Đối với thế giới, đã đến lúc người Việt Nam phải vượt qua rào cản tư duy của một nước lạc hậu, phụ thuộc vào viện trợ tài chính và công nghệ nước ngoài, để có tư duy của một nước có vị thế đang tăng lên ở châu Á và thế giới, với tư cách là thành viên WTO tham gia bình đẳng vào phân công và hợp tác quốc tế trong một thế giới toàn cầu hóa, trước hết là xây dựng thể chế toàn cầu:
(1) Chuẩn bị tốt hơn để chủ động đề ra chủ trương, lựa chọn cán bộ có đủ năng lực và phẩm chất tham gia Vòng đàm phán Doha, nhằm kết thúc Vòng đàm phán này có lợi cho các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
(2) Tìm mọi phương thức thích hợp với từng đối tác trong đàm phán song phương để họ sớm công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường, vì điều đó có lợi cho việc các doanh nghiệp nước ta trong trường hợp phải đối đầu với những vụ kiện bán phá giá.
(3) Các cơ quan nhà nước và doanh nghiệp phải chủ động hơn trong việc theo dõi, kịp thời phát hiện những vi phạm từ các đối tác để tận dụng tư cách là thành viên WTO đòi hỏi họ phải thực hiện nghiêm chỉnh các cam kết đối với Việt Nam.
Năm 2010 cũng cần làm chuyển động lại việc thực hiện Nghị quyết 04-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng ngày 5/2/2007 và Nghị quyết 16/2007 của Chính phủ ngày 27/2/2007 ban hành kèm theo Chương trình hành động của Chính phủ về việc Việt Nam gia nhập WTO, mà do phải giải quyết những vấn đề cấp bách của năm 2008 và 2009 nên dường như ít được nhắc đến.
Trong đó đòi hỏi ráo riết hơn sự chuyển động của cả hệ thống chính trị từ trung ương đến địa phương, bắt đầu từ tư duy tiếp cận với thế giới về một nhà nước hiện đại, phục vụ cho doanh nghiệp và người dân, khuyến khích mọi ý tưởng mới, hỗ trợ mọi sáng tạo; cho đến tư duy của các nhà quản lý doanh nghiệp hướng đến việc quản trị doanh nghiệp theo chuẩn mực quốc tế và của công chức nhà nước cho đến công nhân ở các doanh nghiệp luôn hướng đến chất lượng và hiệu quả trong từng công việc, từng sản phẩm, để góp phần làm cho hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới.
Tập đoàn tài chính đầu tư Goldman Sachs của Mỹ đã xếp Việt Nam vào nhóm 11 nước (N-11) sẽ có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thế giới và có thể là địa chỉ đầu tư tốt cho các nhà đầu tư thế giới trong những năm tới.
Việt Nam trải qua năm 2009 đầy khó khăn, thách thức, nhưng thành quả đạt được là rất đáng khích lệ. Nhân dịp năm mới 2010, Báo Đầu tư đã bình chọn 10 sự kiện kinh tế - xã hội nổi bật năm 2009.
Gần đến ngày 22/01, thời điểm công bố chỉ số CPI cho tháng đầu tiên của năm 2010, không ít người thấy lo lắng và hồi hộp. Nguyên nhân chính là do những lo ngại về việc Chính phủ có thể tăng lãi suất cơ bản nếu CPI tháng này có chiều hướng tăng cao. Những lo ngại này là hoàn toàn có cơ sở dựa trên hai nguyên nhân chủ yếu sau:
Tổng hợp kết quả về việc xây dựng và tổ chức triển khai thực hiện chương trình hành động của Chính phủ để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Bộ Công Thương đã nhận được báo cáo của 14 bộ và 37 địa phương.
Theo ý kiến của nhiều chuyên gia kinh tế, lạm phát 2 con số là khả năng hoàn toàn có thể xảy ra cho năm 2010. Để giảm những áp lực làm tăng lạm phát, gánh nặng một phần được san sẻ cho xuất khẩu với mục tiêu tăng trưởng trên 6% so với năm 2009, tương đương 59,9 tỷ USD.
Tính toán một cách “xông xênh” nhất, giá xăng bình quân khoảng một tháng qua cũng chỉ vào khoảng 9.000 đồng/lít. Như vậy, các doanh nghiệp đang lãi 3.000 đồng trên mỗi lít xăng bán ra và người dân đang phải chịu đựng mức lãi khổng lồ ấy.
Năm 2010 được dự báo là kinh tế toàn cầu sẽ ổn định hơn. VN cũng nằm trong xu thế đó, với chỉ tiêu tăng trưởng GDP đặt ra là 6,5%. Mặc dù vậy, những vấn đề liên quan đến hoạt động tài chính như ngân hàng, vàng, chứng khoán vẫn còn đó những thách thức.
Năm đầu tiên VN gia nhập WTO khá thuận lợi. Từ năm thứ hai (2008), bão táp bắt đầu nổi lên. Sang năm thứ ba (2009), bão táp dữ dội hơn, làm chao đảo cả những con thuyền lớn nhất của nền kinh tế thế giới. VN như một con thuyền nhỏ, lại mới ra biển, không thể tránh khỏi những tác động
Nền kinh tế VN đã vượt qua đáy suy giảm và đã đạt được tăng trưởng 5,32%. Thông điệp của Chính phủ đã công khai 5 nhóm giải pháp cho KT năm 2010 có tính khả thi cao nếu chỉ với mục tiêu đạt tăng trưởng 6,5%.
So với năm 2009, cách nhìn về triển vọng của kinh tế Việt Nam năm 2010 đã đổi chiều. Hi vọng và tin tưởng lớn hơn lo sợ và nghi ngờ. Đa số giới kinh doanh đặt kỳ vọng vào khả năng nền kinh tế sẽ phát triển thuận lợi trong năm 2010.
Trong 2 ngày 6 và 7-1, tại Hà Nội, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã chủ trì Hội nghị triển khai kế hoạch phát triển KT-XH và dự toán ngân sách nhà nước năm 2010. Đại diện các bộ, ngành, địa phương trên cả nước đã về dự.
Từ khi mở cửa hội nhập đến nay, Việt Nam đã đạt những thành tựu to lớn, tốc độ tăng trưởng cao. Tuy vậy, nền kinh tế vẫn chứa đựng nhiều yếu tố phát triển không bền vững, chất lượng tăng trưởng, hiệu quả và tính cạnh tranh chưa cao.
Không có những đột biến lớn, không bất thường về quy luật, diễn biến chỉ số giá tiêu dùng năm 2009 cho cảm giác khá trầm lắng. Nhưng trong một năm nền kinh tế trầm, thăng phức tạp, CPI vẫn có sự đảo chiều tương ứng.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.