Thời gian qua, "Đề án sản xuất và tiêu thụ rau an toàn (RAT) thành phố Hà Nội, giai đoạn 2009-2015" triển khai gặp nhiều khó khăn vướng mắc. UBND TP đã giao Sở NN&PTNT chỉ đạo Chi cục BVTV Hà Nội, cơ quan thường trực tham mưu cho Sở hướng dẫn, phối hợp với các địa phương, đơn vị tích cực triển khai các nhiệm vụ trong đề án theo mảng được phân công. Sau một thời gian ráo riết thực hiện, đến nay đề án đang có bước chuyển biến khả quan.
Sản xuất rau an toàn tại xã Tiền Yên, huyện Hoài Đức. ảnh: Bá Hoạt
Còn nhiều nan giải
Theo Sở NN&PTNT: Thời gian đầu triển khai đề án còn quá chậm so với yêu cầu do vướng mắc trong việc lập dự án tại các địa phương, nguyên nhân do chậm thu hồi, GPMB làm cho các dự án chậm tiến độ. Công tác quy hoạch còn chậm (quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô Hà Nội chưa được phê duyệt, nên quy hoạch phát triển nông nghiệp chưa được hoàn chỉnh để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt, làm cơ sở cho việc thực hiện các dự án đầu tư sản xuất và tiêu thụ RAT trên địa bàn Hà Nội). UBND các huyện còn lúng túng trong triển khai thực hiện đề án. Việc phối hợp giữa các huyện với các sở, ngành liên quan để triển khai công tác lập, thẩm định, trình duyệt dự án và tháo gỡ những vướng mắc phối hợp chưa chặt chẽ, thiếu cụ thể. Mặt khác, UBND các huyện chưa thực sự chủ động, quyết liệt trong chỉ đạo triển khai đề án. Các địa phương mới chỉ quan tâm tập trung chỉ đạo các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng cho các vùng sản xuất RAT, chưa chú trọng công tác sản xuất sau đầu tư và chưa quan tâm đúng mức đến các doanh nghiệp tham gia trực tiếp vào lĩnh vực này. Cơ chế, chính sách khuyến khích, hỗ trợ cho sản xuất và tiêu thụ RAT chậm được ban hành. Việc huy động các nguồn lực cho sản xuất và tiêu thụ chưa được quan tâm cụ thể. Công tác tuyên truyền thông tin đến người sản xuất và người tiêu dùng RAT cũng chưa được quan tâm đúng mức. Phó Chủ tịch UBND TP Trịnh Duy Hùng khẳng định, các địa phương còn lúng túng, chưa thật sự sâu sát và quyết liệt trong việc đề xuất phương án khắc phục, tháo gỡ khó khăn.
Tăng tốc để về đích đúng hẹn
Để hoàn thành mục tiêu đề án đến năm 2010 đạt 2.500ha RAT, ngay từ đầu năm 2010 Chi cục BVTV đã phối hợp với các địa phương rà soát, lựa chọn 96 vùng RAT trọng điểm thuộc 56 xã với tổng diện tích 2.626ha trong đó có 21 vùng thuộc các dự án đầu tư xây dựng vùng RAT tập trung với tổng diện tích 1.151ha để tập trung chỉ đạo, quản lý. Để sản xuất RAT phát triển bền vững và cung cấp sản phẩm rau chất lượng, Hà Nội xác định khâu sản xuất đóng vai trò quan trọng. Thông qua các lớp đào tạo, huấn luyện; thảo luận trên đồng ruộng; các mô hình thử nghiệm tiến bộ kỹ thuật... đã trang bị kiến thức, kỹ thuật, kỹ năng cho nông dân về sản xuất RAT, nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của người sản xuất trong việc tuân thủ quy trình sản xuất RAT nhằm tạo sản phẩm an toàn vệ sinh thực phẩm. Tại những vùng RAT diện rộng, mỗi vùng ngành nông nghiệp Hà Nội đã cử 1 cán bộ kỹ thuật cắm chốt để hướng dẫn, chỉ đạo, giám sát nông dân sản xuất RAT ngoài giờ, kể cả thứ bảy và chủ nhật. Chi cục BVTV Hà Nội tăng cường triển khai trên 100 lớp đào tạo, huấn luyện và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho nông dân ở những vùng này như lớp IPM rau, lớp đào tạo ngắn hạn nâng cao, đào tạo nông dân nòng cốt, sử dụng phân vi sinh mới, thuốc BVTV mới… xây dựng các điểm mô hình giảm tối đa rủi ro thuốc BVTV cộng đồng, nhóm nông dân tự quản. Nhờ đó công tác sản xuất RAT trên diện rộng cơ bản đã đáp ứng yêu cầu.
Một trong những mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị sản xuất RAT nằm ở khâu tiêu thụ, phân phối, lưu thông. Chi cục BVTV Hà Nội đã nhiệt tình tư vấn, hướng dẫn và làm cầu nối để các doanh nghiệp liên kết với các địa phương tham gia vào quá trình sản xuất và tiêu thụ RAT tại các vùng RAT tập trung, điển hình như Công ty Tôn Kin liên kết tổ chức sản xuất RAT và rau hữu cơ tại các xã Thanh Xuân, huyện Sóc Sơn, xã Hương Ngải, huyện Thạch Thất (3ha) và xã Thụy Hương, huyện Chương Mỹ (50ha); Công ty Hương Cảnh liên kết sản xuất RAT theo VietGAP tại xã Văn Đức, huyện Gia Lâm với tổng diện tích 50ha… Tư vấn cho một số siêu thị, doanh nghiệp về vùng nguyên liệu và công tác quản lý chất lượng RAT như Siêu thị Metro, Siêu thị Fivimax, Công ty Sannam, Công ty CP Chất lượng quốc tế - SCS...
Để đẩy nhanh tiến độ đề án, đáp ứng nhu cầu bức thiết về thực phẩm sạch cho người tiêu dùng, Phó Chủ tịch UBND TP Trịnh Duy Hùng yêu cầu các ngành, các huyện phải tập trung chỉ đạo thật sát sao. Mỗi huyện phải chọn ít nhất 1 dự án để thực hiện. Các ngành và địa phương phải rà soát lại các cơ chế chính sách trong nội dung của đề án để giải quyết, đặc biệt là quan tâm tới hình thức tổ chức, xây dựng thương hiệu, tổ chức mạng lưới tiêu thụ, thu hút tạo điều kiện cho doanh nghiệp đầu tư. Sở KH-ĐT và Sở Tài chính sớm phân bổ nguồn lực để các doanh nghiệp sớm triển khai.
Theo bà Nguyễn Thị Hoa, Chi cục trưởng Chi cục BVTV Hà Nội để tiến độ đề án tạo tính đột phá đề nghị UBND TP sớm chấp thuận điều hòa, điều chỉnh mức đầu tư dự án RAT sử dụng nước mặt và nước ngầm về chung một mức để tạo thuận lợi cho các chủ đầu tư trong quá trình lập dự án. Đối với một số dự án của doanh nghiệp có đưa ra một tỷ lệ diện tích để thực hiện các công trình phụ trợ cho sản xuất RAT (giới thiệu sản phẩm, dịch vụ sinh thái… chiếm khoảng 20% diện tích) nhưng còn gặp vướng mắc về cơ chế thu hồi và giải phóng mặt bằng, UBND thành phố cho ý kiến chỉ đạo tháo gỡ…
Sau ba năm thực hiện Quyết định 161/QÐ-TTg ngày 5-2-2007 của Thủ tướng Chính phủ về quy hoạch phát triển muối và bàn biện pháp phát triển sản xuất, tiêu thụ muối, đến nay, diện tích sản xuất muối của cả nước hơn 15.200 ha, đạt mục tiêu tổng thể, nhưng chưa đạt yêu cầu về cơ cấu diện tích sản xuất muối công nghiệp và muối thủ công.
Việc nông dân mua bảo hiểm cho cây trồng, vật nuôi sẽ phần nào giảm sự bấp bênh, rủi ro khi xảy ra thiên tai địch họa, dịch bệnh vốn xuất hiện nhiều ở Việt Nam.
Trong điều hành xuất khẩu gạo, các bộ, ngành và địa phương thống nhất giữ giá lúa theo hướng có lợi cho người trồng lúa, tạo động lực mở rộng sản xuất lúa gạo những tháng cuối năm 2010.
Đầu tư phát triển các loại giống mới có chất lượng được xem là khâu có tính quyết định, nhằm tăng hiệu quả sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững của ngành nông nghiệp.
Năm nào cũng vậy, từ giữa tháng 8, nông dân trồng mía ở huyện Phụng Hiệp (tỉnh Hậu Giang) cũng buộc phải bán tháo mía non cho các lò đường thủ công, trong khi tới giữa tháng 9-2010, các nhà máy đường ở ĐBSCL mới bắt đầu hoạt động.
Còn khoảng 70% diện tích lúa nằm trong thời kỳ nguy hiểm (chưa trỗ) có nguy cơ nhiễm bệnh cần được phòng trừ, vì đợt cao điểm của bệnh lùn sọc đen rơi vào thời điểm giữa tháng 9 và đầu tháng 10.
Năm 2010 là năm thứ 6 liên tiếp cây bưởi Diễn trên chính đất Phú Diễn (Từ Liêm) mất mùa không rõ nguyên nhân. Bưởi mất mùa không chỉ ảnh hưởng đến thu nhập của người trồng bưởi mà nỗi buồn, vẻ lo lắng còn hiển hiện trên khuôn mặt của những người dân, gắn bó với cây bưởi mấy chục năm nay. Họ lo rằng giống cây ăn quả đặc sản vô cùng quý báu của Thủ đô Hà Nội có khả năng mai một.
Khoảng 2 tháng nữa các nhà máy đường (NMĐ) khu vực này mới bước vào niên vụ ép 2010- 2011. Nhưng từ bây giờ, nỗi lo thiếu mía nguyên liệu đã ám ảnh các NMĐ và nhiều khả năng tái diễn cuộc chiến khốc liệt giành nhau mua mía nguyên liệu.
Ðiệp khúc "được mùa, mất giá, khó tiêu thụ" lâu nay luôn là nỗi lo của những người làm muối. Một số biện pháp hỗ trợ được đưa ra nhưng hiệu quả vẫn chưa thấy. Ðầu ra tiêu thụ sản phẩm muối cho người dân vẫn cứ ì ạch. Mới đây, có dịp đi qua những vựa muối ở Cà Ná, Ninh Hải (Ninh Thuận) mới thấy xót vô cùng.
Thời gian gần đây, dư luận đã phải rùng mình trước liên tiếp những thông tin về thực phẩm thiết yếu bị “nhiễm bẩn” do ô nhiễm từ ngay đầu vào.
Các huyện Thạch Thất, Chương Mỹ, Quốc Oai... hiện có hơn 50.000ha đất đồi gò, sản xuất nông nghiệp kém hiệu quả. Trong quá trình đô thị hóa, diện tích đất nông nghiệp đang dần bị thu hẹp, việc đầu tư khoa học kỹ thuật, chọn giống cây trồng phù hợp nhằm nâng cao giá trị sản xuất trên vùng đất khô cằn này là một định hướng khả quan cho nông nghiệp Thủ đô.
Thời gian qua, ngành chăn nuôi rơi vào cảnh khốn khó nhiều bề, nhiều hộ chăn nuôi đang kiệt sức, thậm chí phá sản. Không ít chuyên gia cho rằng, nội tại ngành chăn nuôi Việt Nam đang "ủ" quá nhiều "mầm bệnh", giá thức ăn chăn nuôi (TĂCN) liên tục leo thang từ cuối năm 2009 tới nay; phương thức sản xuất nhỏ lẻ, manh mún; dịch bệnh diễn biến phức tạp…
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.