Mặc dù đã được triển khai gần 20 năm nhưng việc sản xuất giống lúa lai của nước ta hiện mới chỉ đáp ứng một phần nhỏ nhu cầu. Theo số liệu từ Cục Trồng trọt (Bộ NN&PTNT), trên 70% lượng hạt giống lúa lai F1 phục vụ sản xuất trong nước phải nhập từ nước ngoài, chủ yếu là Trung Quốc.
Ảnh: minh họa.
Mới đáp ứng được20 - 25%
Chương trình nghiên cứu và phát triển lúa lai của nước ta bắt đầu từ năm 1992 với hai tổ hợp lúa lai đầu tiên là HV1, HV2 do Bộ NN&PTNT nhập nội và tiến hành gieo trồng tại Đan Phượng. Theo đánh giá, lúa lai cho năng suất cao hơn 15 - 20% so với lúa thuần. Tuy nhiên, cho đến nay, sau gần 20 năm, việc nghiên cứu và sản xuất giống lúa lai của nước ta vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu. Theo số liệu của Cục Trồng trọt, hiện mỗi năm Việt Nam chỉ sản xuất được khoảng 3.500 - 4.000 tấn hạt giống lúa lai F1, mới đáp ứng được 20 - 25% nhu cầu trong nước.
Không những thiếu nguồn giống, chúng ta còn chưa có nhiều dòng lúa lai bố mẹ có đặc tính nông học tốt và cho ưu thế lai cao. Ông Nguyễn Trí Ngọc, Cục trưởng Cục Trồng trọt cho biết: Năng suất của một số tổ hợp lúa lai chọn tạo trong nước còn thấp nên chưa thu hút được người nông dân tham gia sản xuất hạt giống lúa lai F1. Hơn nữa, các tổ hợp lai chưa phong phú, đặc biệt còn thiếu các tổ hợp lai chống chịu với sâu bệnh (nhất là rầy nâu, bạc lá) và điều kiện ngoại cảnh không thuận lợi như mặn, hạn, úng, rét… Các giống lúa lai có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nội địa và xuất khẩu cũng còn ít.
PGS.TS Nguyễn Thị Trâm, nguyên Phó Viện trưởng Viện Sinh học nông nghiệp (Đại học Nông nghiệp Hà Nội) cho biết thêm: Số lượng các tổ hợp lúa lai do Việt Nam tự chọn tạo giống còn rất "khiêm tốn". Từ năm 2004 đến nay, chúng ta mới chỉ có 10 tổ hợp lúa lai được công nhận giống quốc gia và 16 giống được công nhận sản xuất thử. Nguyên nhân là do vốn đầu tư cho nghiên cứu và phát triển lúa lai còn dàn trải, nguồn nhân lực nghiên cứu vừa thiếu lại vừa yếu. Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước lại không ưu tiên sản xuất hạt giống lúa lai F1 tại Việt Nam do tính rủi ro cao và sợ mất bản quyền…
Cần quy hoạch các vùng sản xuất tập trung
Vụ Xuân 2011, diện tích sản xuất lúa lai F1 đạt 1.361ha, thấp hơn cùng kỳ 2010 trên 600ha. Để có đủ nguồn giống lúa lai cung ứng cho sản xuất, theo ông Nguyễn Trí Ngọc, cần tiến hành quy hoạch các vùng, các làng nghề sản xuất giống lúa lai tập trung với diện tích khoảng 4.500ha. Phấn đấu đến năm 2015, nước ta sẽ tự chủ được 50 - 70% nhu cầu giống lúa lai và đến năm 2020 đạt 80%.
Theo GS.TS Hoàng Tuyết Minh, Hội Giống cây trồng Việt Nam, cần chọn tạo đều cả giống lúa lai hai dòng và ba dòng. Đồng thời xây dựng tiêu chí của sản phẩm theo tiêu chuẩn quốc tế. Có như vậy, chúng ta mới có được các dòng mẹ ưu tú để có tổ hợp lai đạt mức siêu cao sản, tương đương với các tổ hợp lai tốt của Trung Quốc. Đặc biệt, cần gắn kết chặt chẽ nghiên cứu, chọn tạo giống với doanh nghiệp để thương mại hóa sản phẩm.
Bên cạnh đó, để khuyến khích sản xuất hạt giống lúa lai, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ rủi ro cho sản xuất giống lúa lai F1 cao hơn mức 1,5 triệu đồng/ha hiện nay của lúa thuần. Đồng thời, bổ sung các tỉnh có sản xuất giống lúa lai F1 vào danh sách thí điểm bảo hiểm nông nghiệp chuẩn bị triển khai từ 1/7 tới. Cùng với đó, có chính sách ưu tiên đầu tư trang thiết bị và đào tạo đội ngũ cán bộ nghiên cứu giống lúa lai…
Trong sản xuất vụ mùa năm nay, nông dân trong tỉnh Gia Lai đã tự phát mở rộng diện tích và chuyển đổi hàng ngàn ha các loại cây trồng không theo quy hoạch, gồm 1.200 ha mía, 400ha tiêu, 200ha càphê và gần 1.000 ha điều trồng tái canh.
Ngày 15-9, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã làm việc với lãnh đạo chủ chốt Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn về tình hình thực hiện nghị quyết số 26-NQ/TW hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
Trong hai mươi lăm năm đổi mới, nhờ vào các yếu tố đầu vào như đất đai, nước tưới, lao động, vật tư…, lĩnh vực nông nghiệp nông thôn đã duy trì được mức tăng trưởng cao đều đặn 4-5%, giúp Việt Nam đạt được những thành công đáng kể về phát triển kinh tế xã hội: đảm bảo an ninh lương thực, xóa đói giảm nghèo, duy trì mức xuất siêu nông sản…
Tổng hợp tại 4 thành phố, có tới 26% số hộ nấu ăn 3 lần/ngày; 68-74% số hộ nấu ăn 2 lần ngày; chỉ có 8% số hộ nấu ăn một lần trong ngày. Các doanh nhân thường chỉ tự nấu ăn 2-4 lần/tuần, con số này chiếm tỷ lệ 2% số hộ gia đình.
Suy nghĩ về vấn đề bức bách nhất mà ngành nông nghiệp chưa làm được là ổn định đầu ra của sản phẩm, GS Võ Tòng Xuân có bài viết đề cập các tình huống dẫn đến những thất bại và thành công vừa qua của thị trường nông nghiệp Việt Nam, phân tích những điều kiện đáp ứng thị trường, và phương pháp vĩ mô cần áp dụng để tạo thị trường, với thí dụ thành công của Malaysia về dầu cọ.
Thành tựu của ngành trồng lúa ở Việt Nam đã được thế giới khen ngợi, thế nhưng chúng ta vẫn day dứt vì những nông dân trồng lúa là những người nghèo nhất.
Việc đưa thực hành nông nghiệp tốt (GAP) vào canh tác sản xuất trái cây, chủ yếu phục vụ xuất khẩu và còn lại cho nội địa, từ nhiều năm gần đây trở thành "phong trào" ở nhiều địa phương. Nhưng cho đến nay, không ít mô hình đã đi vào bế tắc vì nhiều lý do, chủ yếu là không tìm được đầu ra.
Trong những năm gần đây, nông nghiệp Việt Nam luôn đạt sự tăng trưởng khá, một số sản phẩm nông nghiệp chiếm vị thế cao trên thị trường quốc tế, thế nhưng ngành nông nghiệp Việt Nam thường trong tình trạng được mùa, mất giá.
GS.TS Võ Tòng Xuân, nhà khoa học có uy tín trong lĩnh vực nông nghiệp đề xuất với Chính phủ cần sớm có chính sách “Nông nghiệp thời WTO”, nhằm có mức đầu tư đúng và phù hợp với giai đoạn hiện nay, chứ không thể để nông dân “tự bơi”.
Hội nghị thượng đỉnh ASEAN 18 đã nhấn mạnh việc hợp tác giữa các nước trong khu vực để đảm bảo an ninh lương thực và đối phó với với tình trạng giá lương thực tăng hiện nay. Nói đến lương thực là nói đến một phần quan trọng của nông nghiệp.
Hôm nào gần sáng mà trời đổ mưa tôi lại nhớ tiếng mái dầm khua lộp cộp, tiếng tát nước xuồng, tiếng chén bát chạm nhau trong thúng khi di chuyển từ nhà xuống bến chuẩn bị bữa sáng cho thợ cấy.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.