Đại hội IX của Đảng đề ra Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội cho 10 năm đầu của thế kỷ XXI với quan điểm phát triển chủ đạo của Chiến lược là “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”. Đối với sản xuất lúa gạo, yêu cầu phát triển hiệu quả và bền vững là vấn đề có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với ngành sản xuất lúa gạo mà còn đối với cả nền kinh tế. Để đánh giá mức độ phát triển hiệu quả và bền vững của sản xuất lúa gạo, cần xem xét toàn diện các mặt hiệu quả về kinh tế, xã hội và môi trường trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nói cách khác, đó là xem xét quá trình nâng cao hiệu quả sản xuất có đi kèm với giải quyết các vấn đề xã hội và môi trường được đặt ra hay không.
Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của sản xuất lúa gạo
Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế
1. Chỉ tiêu GTGT/tấn gạo của ngành lúa gạo (GTGTng)
Tính bằng tổng GTGT ở tất cả các khâu của sản xuất lúa gạo bao gồm sản xuất lúa (GTGTsx), thu gom lúa (GTGTtg), chế biến gạo (GTGTcb) và tiêu thụ gạo (GTGTtt) trên tấn gạo tiêu thụ. Chỉ tiêu đánh giá khả năng tạo ra GTGT bình quân trên tấn gạo cho nền kinh tế của sản xuất lúa gạo, thông qua đó đánh giá sức cạnh tranh về chất lượng và GTGT/tấn gạo của Việt Nam với bên ngoài. Chỉ tiêu này cần đánh giá đi kèm với tốc độ tăng GTGT/tấn gạo để xem xét mức độtăng/giảm trong giai đoạn nhất định.
GTGTng = GTGTsx + GTGTtg + GTGTcb + GTGTtt
2. Chỉ tiêu hàm lượng GTGT trên tấn gạo của ngành lúa gạo (Hgt).
Tính bằng tỷ lệ GTGTng trên giá trị gạo tiêu thụ (Gt) của ngành sản xuất lúa gạo, chỉ tiêu đánh giá hiệu quả nguyên vật liệu và dịch vụ của ngành, hàm lượng GTGT càng cao càng thể hiện xu hướng sản xuất tốt, bền vững. Chỉ tiêu này cũng cần được phân tích ở các khâu của sản xuất lúa gạo, nhất là trong sản xuất lúa và chế biến gạo, xem xét hàm lượng GTGT trên tấn lúa và hàm lượng GTGT trên tấn gạo chế biến.
Hgt = (GTGTng/ Gt) x 100
3. Chỉ tiêu lợi nhuận/tấn gạo của ngành lúa gạo (LNng)
Tính bằng tổng lợi nhuận ở tất cả các khâu bao gồm sản xuất lúa (LNsx), thu gom lúa (LNtg), chế biến gạo (LNcb) và tiêu thụ gạo (LNtt). Chỉ tiêu cần phân tích đi kèm với tốc độ tăng lợi nhuận/tấn gạo để đánh giá hiệu quả về lợi nhuận thu được từ sản xuất 1 tấn gạo của ngành lúa gạo và mức độ tăng/giảm trong giai đoạn nhất định, thông qua đó cho biết hiệu quả cạnh tranh về lợi nhuận của ngành sản xuất lúa gạo Việt Nam với các ngành sản xuất lúa gạo ở bên ngoài. Chỉ tiêu này cần được phân tích ở tất cả các khâu của ngành lúa gạo để đánh giá hiệu quả sản xuất ở từng khâu.
LNng = LNsx + LNtg + LNcb + LNtt
4. Chỉ tiêu tỷ suất doanh lợi ngành lúa gạo (TSd)
Tính bằng tỷ lệ (%) lợi nhuận của toàn ngành trên giá trị gạo tiêu thụ, chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sinh lợi trên doanh thu tiêu thụ gạo của ngành sản xuất lúa gạo. Chỉ tiêu càng cao cho thấy càng mở rộng sản xuất, mức lợi nhuận thu về của ngành lúa gạo càng tăng nhanh, mở rộng sản xuất có lợi.
TSd = (LNng/Gt) x 100
5. Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên chi phí của ngành lúa gạo (TSl)
Tính bằng tỷ lệ (%) lợi nhuận (LNng) thu được trên tổng chi phí (CPng) ở tất cả các khâu sản xuất của toàn ngành lúa gạo. Đối với các khâu sản xuất, tính bằng tỷ lệ (%) lợi nhuận trên chi phí ở từng khâu. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư kinh doanh của sản xuất lúa gạo, chi phí 1 đồng vốn đầu tư thu về được bao nhiêu lợi nhuận.
TSl = (LNng / CPng) x 100
6. Chỉ tiêu lợi nhuận/ha đất sản xuất lúa (LNa)
Tính bằng lợi nhuận thu được từ sản xuất lúa trong 1 năm (LNv) trên ha đất canh tác. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất đối với nông dân ở khâu sản xuất lúa của ngành lúa gạo, qua đó thể hiện khả năng cạnh tranh về sử dụng đất của sản xuất lúa đối với các sản phẩm nông nghiệp khác ở trong nước và so với sản xuất lúa ở bên ngoài.
LNa = LNv / ha
Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội
7. Chỉ tiêu thu nhập đầu người/thángnông dân sản xuất lúa. (TNt)
Tính bằng tổng thu nhập (STn) qui theo tháng từ sản xuất lúa và từ các nguồn khác trên tổng số nhân khẩu của hộ (Sng). Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tạo thu nhập, giảm nghèo cho nông dân từ sản xuất lúa.
TNt = STn / Sng
8. Chỉ tiêu chênh lệch thu nhập đầu người nông dân trồng lúa với mức thu nhập đầu người bình quân chung cả nước. (ICg)
Tính bằng tỷ lệ (%) thu nhập bình quân đầu người của nhóm hộ nông dân trồng lúa (TNt) so mức thu nhập bình quân đầu người của cả nước (TNc) qui theo tháng. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả và bền vững đối với phát triển sản xuất lúa gạo về giảm khoảng cách chênh lệch thu nhập đầu người của nông dân trồng lúa với mức thu nhập bình quân đầu người chung của cả nước trong một giai đoạn nhất định.
ICg = (TNt / TNc) x 100
9. Chỉ tiêu bảo đảm ANLT.(ANlt)
Tính bằng tỷ lệ (%) số người thiếu lương thực qui gạo (Ntg) trên dân số cả nước (DSc). Chỉ tiêu đánh giá mức độ bảo đảm ANLT thông qua phát triển sản xuất lúa gạo thể hiện bằng tỷ lệ người thiếu lương thực giảm dần.
ANlt = (Ntg / Dsc)x 100
Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả về mặt môi trường
10. Chỉ tiêu tỷ lệ DTGT lúa thân thiện môi trường. (HMt)
Tính bằng tỷ lệ (%) DTGT lúa thân thiện môi trường (DTm) trên tổng DTGT lúa cả nước (DTg). Chỉ tiêu đánh giá gián tiếp hiệu quả khắc phục ô nhiễm môi trường từ sử dụng phân bón và các loại hoá chất khác trong sản xuất lúa thông qua tỷ lệ DTGT lúa áp dụng các qui trình canh tác thân thiện môi trường.
HMt = (DTm / DTg) x 100
11. Chỉ tiêu phòng chống, giảm nhẹ thiên tai cho sản xuất lúa. (HPt)
Tính bằng tỷ lệ (%) DTGT lúa bị thiệt hại do thiên tai gây ra hàng năm (DTt) trên tổng DTGT lúa cả nước (DTg). Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả phòng chống, giảm nhẹ thiên tai cho sản xuất lúa của nông dân đối với ngành lúa gạo.
HPt = (DTt / DTg) x 100
Chỉ tiêu đánh giá phát triển bền vững sản xuất lúa gạo
Để đánh giá mức độ phát triển bền vững của sản xuất lúa gạo về kết hợp hài hoà các mặt hiệu quả về kinh tế, xã hội và môi trường, có thể phân tích các chỉ tiêu so sánh chênh lệch, so sánh tương quan tốc độ tăng/giảm giữa các hiệu quả về kinh tế, xã hội và môi trường với nhau. Nguyên tắc đánh giá, hiệu quả về các mặt kinh tế, xã hội và môi trường của sản xuất lúa gạo phải cùng tăng lên tỷ lệ thuận với nhau đồng thời so sánh tương quan tốc độ tăng/giảm giữa các mặt hiệu quả không quá chênh lệch nhau gấp nhiều lần trong một giai đoạn nhất định (5- 10 năm).
Sau đây là một số chỉ tiêu minh hoạ cần phân tích trong đánh giá mức độ phát triển bền vững kết hợp hài hoà các mặt của sản xuất lúa gạo.
12. Chỉ tiêu phát triển bền vững về kinh tế- xã hội. (Ckx)
Tính bằng chỉ số so sánh chênh lệch tốc độ tăng lợi nhuận/tấn gạo của ngành lúa gạo (Vln) với tốc độ tăng mức tiêu dùng gạo LTTP bình quân đầu người (Vlt), thông qua đó đánh giá mức độ phát triển kết hợp hài hoà hiệu quả về mặt kinh tế và hiệu quả về mặt xã hội.
Ckx = Vln / Vlt
Chỉ số càng lớn cho thấy hiệu quả sản xuất tính bằng lợi nhuận/tấn gạo của ngành lúa gạo tăng càng nhanh nhưng ngược lại hiệu quả xã hội về bảo đảm ANLT tính bằng mức tiêu dùng gạo làm LTTP bình quân đầu người tăng càng chậm, mức độ phát triển bền vững lúa gạo trên cơ sở kết hợp hài hoà mặt kinh tế và mặt xã hội càng kém.
Tuy nhiên, trong đánh giá cần lưu ý kết hợp phân tích các mặt khác và xét đến thứ tự ưu tiên về hiệu quả trong từng giai đoạn nhất định đối với phát triển sản xuất lúa gạo. Chẳng hạn, trong điều kiện hiệu quả về lợi nhuận sản xuất của ngành lúa gạo rất thấp trong khi ANLT quốc gia cơ bản đã được bảo đảm thì rõ ràng lợi nhuận sản xuất cần phải có tốc độ tăng cao hơn nhiều so với tốc độ tăng mức tiêu dùng gạo LTTP đầu người.
13. Chỉ tiêu phát triển bền vững về kinh tế- môi trường. (Ckm)
Tính bằng chỉ số so sánh chênh lệch tốc độ tăng lợi nhuận/tấn gạo của ngành lúa gạo (Vln) với tốc độ tăng DTGT lúa thân thiện môi trường (Vdm). Thông qua đó, đánh giá mức độ phát triển kết hợp hài hoà hiệu quả về mặt kinh tế và hiệu quả về mặt môi trường của sản xuất lúa gạo. Về tổng quát, chỉ số này càng gần 1 càng tốt, tuy nhiên trong thực tế nếu tình trạng ô nhiễm môi trường từ sản xuất ngày càng tăng lên chỉ số cần nhỏ hơn 1.
Ckm = Vln / Vdm
14. Chỉ tiêu kết hợp tăng lợi nhuận và GTGT sản xuất lúa gạo.(Clg)
Tính bằng chỉ số so sánh chênh lệch tốc độ tăng lợi nhuận/tấn gạo (Vln) và tốc độ tăng GTGT/tấn gạo (Vgt) của ngành sản xuất lúa gạo. Chỉ tiêu đánh giá tính bền vững về mặt hiệu quả kinh tế trên cơ sở tăng lợi nhuận/tấn gạo cần phải đi đôi với tăng GTGT/tấn gạo, nâng cao sức cạnh tranh về chất lượng gạo. Chỉ tiêu này, cần được đánh giá đối với tất cả các khâu của sản xuất lúa gạo, vì hiệu quả ở một khâu không bền vững sẽ dẫn đến hiệu quả sản xuất của cả ngành thiếu tính bền vững.
Clg = Vln / Vgt
15. Chỉ tiêu kết hợp hài hoà giải quyết các vấn đề xã hội. (Ita)
Tính bằng chỉ số so sánh chênh lệch tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người hộ nông dân trồng lúa (Vtn) với tốc độ tăng mức tiêu dùng gạo làm LTTP bình quân đầu người (Vlt). Trong thực tế, khi giá gạo tăng lên thu nhập từ sản xuất lúa của nông dân tăng rõ rệt nhưng mức tiêu dùng gạo làm LTTP bình quân đầu người tăng chậm lại. Dễ thấy, khi giá gạo tăng nông dân có lợi nhưng ngược lại khả năng tiếp cận lương thực hàng hoá của một bộ phận người nghèo trong xã hội giảm xuống. Chỉ tiêu này, nhằm đánh giá tính bền vững về mặt xã hội của phát triển sản xuất lúa gạo thông qua xemxét mức độ kết hợp hài hoà trong giải quyết vấn đề giữa một bên là tăng thu nhập, giảm nghèo cho nông dân trồng lúa và một bên là bảo đảm ANLT, giảm tỷ lệ người thiếu lương thực.
Ita= Vtn / Vlt
Phương pháp đánh giá
Đánh giá phát triển hiệu quả và bền vững lúa gạo không phải là xem xét đơn thuần, riêng rẽ từng chỉ tiêu về hiệu quả hay phát triển bền vững, càng không phải ở qui mô phát triển sản xuất ngày càng lớn mà xét vấn đề trong mối quan hệ chặt chẽ giữa các mặt hiệu quả và phát triển bền vững. Đánh giá tổng hợp các chỉ tiêu cần thực hiện trên cơ sở xem xét mức độ ảnh hưởng của mỗi chỉ tiêu đến phát triển hiệu quả và bền vững sản xuất lúa gạo trong thực tế.
Để đánh giá tổng hợp các chỉ tiêu, qua đó nhận diện mức độ hiệu quả và phát triển bền vững sản xuất lúa gạo, có thể sử dụng một số phương pháp khác nhau. Sau đây là phương pháp cho điểm để đánh giá tổng hợp các chỉ tiêu.
Công cụ đánh giá là Bảng điểm đánh giá tổng hợp chỉ tiêu về mức độ phát triển hiệu quả và bền vững sản xuất lúa gạo.
Bảng điểm đánh giá bao gồm:
- Cột chỉ tiêu đánh giá, được phân nhóm theo các mặt hiệu quả và phát triển bền vững hoặc phân theo chỉ tiêu về các mặt kinh tế, xã hội và môi trường.
- Cột đơn vị đo lường chỉ tiêu
- Cột thực hiện chỉ tiêu, sử dụng để đưa số liệu vào theo các chỉ tiêu đánh giá.
- Cột điểm số, sử dụng để cho điểm theo từng chỉ tiêu. Điểm số Xi có thể cho trong khoảng0 £Xi £ 10 đánh giá mức độ đạt yêu cầu của từng chỉ tiêu với điểm tối đa là 10 và điểm thấp nhất là 0 hoặc với thang điểm tuỳ chọn.
- Cột hệ số điểm ki, sử dụng để đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng chỉ tiêu đến kết quả đánh giá chung toàn bộ hệ thống chỉ tiêu về mức độ phát triển hiệu quả và bền vững của sản xuất lúa gạo. Có thể xác định 0 <ki £ 1hoặc tuỳ chọn.
- Cột kết quả cho điểm, xác định số điểm bằng tích kiXi cho theo từng chỉ tiêu, qua đó cho biết tổng số điểm của từng nhóm chỉ tiêu và tổng số điểm Y của toàn bộ hệ thống chỉ tiêu.
Y = SUM (k1.X1 : knXn) với số chỉ tiêu = n
- Cột kết quả đánh giá.
+ Thể hiện mức độ đạt yêu cầu của từng chỉ tiêu tính bằng tỷ lệ (%) Xi/10 hoặc theo phân hạng điểm số. Ví dụ:
0 £Xi £2,5rất kém
2,5 <Xi £5kém
5 <Xi £7,5trung bình
7,5 <Xi £10tốt
+ Thể hiện mức độ đạt yêu cầu của toàn bộ hệ thống chỉ tiêu tính bằng tỷ lệ (%) số điểm đạt được (Y) trên tổng số điểm tối đa hoặc theo phân hạng điểm số.
Các bước tiến hành
- Bước 1: Xác định chỉ tiêu đánh giá và hệ số ảnh hưởng của chỉ tiêu đến kết quả chung về hiệu quả và bền vững của sản xuất lúa gạo.
- Bước 2: Xác định thang điểm và cho điểm số từng chỉ tiêu. Khi cho điểm cần có sự tham gia của đa đối tượng liên quan như nông dân, nhà khoa học, nhà quản lý, doanh nghiệp, cấp lãnh đạo, chuyên gia.
- Bước 3: Tổng hợp số điểm của các chỉ tiêu đạt được so với điểm tối đa để đánh giá mức độ hiệu quả và bền vững của sản xuất lúa gạo. Nguyên tắc đánh giá, tổng số điểm càng cao càng tốt với điều kiện đặt ra tất cả các chỉ tiêu đều phải đạt được số điểm tối thiểu đề ra cụ thể cho từng chỉ tiêu. Trường hợp, tổng số điểm đạt được rất cao nhưng một số chỉ tiêu quan trọng có điểm số thấp, có thể đánh giá chung kết quả đạt được chưa đạt yêu cầu.
Trường hợp có so sánh với bên ngoài, có thể sử dụng phương pháp cho điểm theo nguyên tắc so sánh tương đối giữa các chỉ tiêu thực hiện được của Việt Nam với nước chọn để đối chiếu. Trường hợp này, kết quả đánh giá có tính chất tương đối, thể hiện mức độ đạt được của sản xuất lúa gạo Việt Nam so với trình độ phát triển bên ngoài./.
Đất trồng lúa, đất màu, đất quy hoạch xây dựng khu công nghiệp, khu đô thị.... không được dùng cho việc phát triển sân golf. Nghị quyết phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 8 nêu rõ.
Gói kích cầu hỗ trợ lãi suất cho nông dân được coi là “khẩn thiết” và là cơ hội để cơ giới hóa nông nghiệp nông thôn, gia tăng sản xuất. Nhưng, khi triển khai, gói kích cầu vẫn “chưa thông suốt”.
Xuân Phong và Bắc Phong là hai xã miền núi huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình. Nơi đây có 98% dân số là đồng bào Mường, đời sống khó khăn. Từ tháng 4-2009, địa phương đã triển khai dự án trồng rừng theo cơ chế sạch.
Đã có hai nhà máy, một ở Hậu Giang và một ở Tây Ninh vào vụ ép mía, công suất 3.000 tấn mía/ngày, nhưng hiện nay, giá đường trắng tinh luyện tại Hà Nội và TP.HCM vẫn trên 15.500đ/kg, cao hơn 40% so với thời điểm đầu tháng 7.2009.
Báo cáo của Chính phủ về quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm cho thấy lượng vệ sinh an toàn thực phẩm đang ở mức báo động. Nhiều mẫu rau, quả có chất bảo quản thực vật vượt giới hạn cho phép.
Để khắc phục tình trạng manh mún, kiểm soát tốt dịch bệnh trong chăn nuôi, xã Thạch Thán (Quốc Oai - Hà Nội) đã quy hoạch gần 40ha ở xứ đồng trũng úng cấy lúa không hiệu quả, để phát triển chăn nuôi đa canh kết hợp. Không thể phủ nhận giá trị kinh tế của mô hình chuyển đổi này, tuy nhiên do quy hoạch không đồng bộ, nông dân thiếu vốn… khiến chăn nuôi xa khu dân cư nhưng vẫn gây ô nhiễm.
Theo dự án “Kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2010” đang được Bộ Tài nguyên và Môi trường gấp rút hoàn thiện, dự kiến trình Thủ tướng Chính phủ xem xét phê duyệt trong tháng 8 tới, việc kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất sẽ bắt đầu được triển khai từ ngày 1-1-2010.
- Đến nay ĐBSCL đã thu hoạch hơn 1,2/1,6 triệu ha lúa hè thu, năng suất bình quân 4,8-5 tấn/ha. Giá lúa gạo nguyên liệu hiện vẫn còn ở mức thấp, sức tiêu thụ có dấu hiệu chậm lại. Hiện lúa ướt tại ruộng được thương lái thu mua giá 2.800-3.100 đồng/kg, lúa khô 3.400-3.800 đồng/kg (tùy loại).
Theo thông tin thống kê của các ngành chức năng huyện Đức Phổ, Quảng Ngãi, sản lượng muối của vựa muối Sa Huỳnh, (ảnh) năm nay chỉ đạt xấp xỉ chừng 3.000 tấn, tương đương 30% so với sản lượng trung bình nhiều năm và đạt khoảng gần 60% chỉ tiêu điều chỉnh từ giữa vụ.
Chăn nuôi quy mô trang trại đang là mục tiêu phát triển của ngành nông nghiệp Đà Nẵng. Hàng loạt trang trại quy mô lớn đã và đang hình thành là cơ sở để xây dựng nền nông nghiệp đô thị, ổn định và bền vững.
Kỷ lục lạm phát của Việt Nam đã vượt qua tất cả các quốc gia trong khu vực kể từ khi đất nước tiến hành đổi mới đến nay, theo một nghiên cứu khoa học vừa công bố sáng 21-5.
Tại hội thảo chuyên đề về chính sách tiền tệ và lạm phát mục tiêu cuối tuần qua, ông Nguyễn Đức Hưởng, Phó chủ tịch Hội đồng Quản trị Ngân hàng Bưu điện Liên Việt (LienVietPostBank), đưa ra một quan điểm trái chiều.
Tại cuộc họp báo của Văn phòng Quốc hội về kỳ họp thứ 5, các câu hỏi chuyển tới Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc chủ yếu tập trung vào nội dung lấy phiếu tín nhiệm mà Quốc hội dự kiến sẽ dành khoảng 3 ngày thực hiện công việc này.
Chống tham nhũng chưa đạt mục tiêu, lấy ý kiến sửa Hiến pháp còn hình thức, doanh nghiệp nhà nước làm thất thoát tài sản nhưng xử lý trách nhiệm chưa nghiêm, thị trường vàng bất ổn... 1.724 ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân cả nước gửi tới Quốc hội tại kỳ họp thứ 5 thể hiện lo lắng ở hầu khắp các lĩnh vực.
Trao đổi với Tiền Phong, các chuyên gia cho rằng, tình hình kinh tế như viên than hồng. Để làm nguội than, phải kiểm soát chặt đầu tư công, không bơm tiền tiếp cho các “xác chết biết đi” và thực hiện nhiều biện pháp đồng bộ, mới có thể tìm ra lối thoát.
Ngày 16/5, tại buổi họp báo về 2 dự án Tổ hợp bauxit-alumin (nhôm) Lâm Đồng và dự án alumin Nhân Cơ (Đăk Nông), TS Nguyễn Tiến Chỉnh - Trưởng Ban Khoa học công nghệ và Chiến lược phát triển (thuộc Vinacomin) khẳng định, 2 dự án có hiệu quả về kinh tế. Theo tính toán sẽ nộp ngân sách 400 tỷ đồng/năm.
Dự thảo nghị định về thuế thu nhập cá nhân theo hướng chặt chẽ hơn đang được Bộ Tài chính tính toán hoàn thiện nhằm tránh thất thu thuế cho ngân sách nhà nước.
Sau một thời gian dài kiểm soát tín dụng với lãi suất cao, nhiều doanh nghiệp đã ngừng sản xuất, giải thể, phá sản, một bộ phận lớn doanh nghiệp đang nỗ lực vượt qua thời điểm khó khăn, nhưng không thể kéo dài tình trạng này hơn nữa.
Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội đã đồng ý với việc ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp đầu tư - kinh doanh nhà ở xã hội, áp dụng từ 1/7/2013, theo đề xuất của Chính phủ.
Bên ly cà phê chiều cuối tuần, lãnh đạo một ngân hàng nhỏ trầm ngâm: “Nếu tình hình cứ thế này, có lẽ tìm đối tác để hợp sức lại là một hướng đáng cân nhắc”.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.