Những việc cần làm sau Nghị quyết 11 là xây dựng chuỗi bán hàng, kho dự trữ để tránh sốc giá đối với các mặt hàng nông nghiệp…
Trong sáu tháng triển khai Nghị quyết 11 của Chính phủ, đến nay chúng ta đã đạt được nhiều thành công bước đầu. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại và thách thức lớn mà cụ thể là lạm phát vẫn ở mức rất cao, bội chi ngân sách có giảm nhưng vẫn chưa phải xuống thấp, lãi suất là một trong những công cụ để giảm lạm phát hiện nay chưa thực sự giảm. Điều này ảnh hưởng tới dự trữ ngoại hối quốc gia trong tương lai. Chính vì thế, giờ đây sản xuất đình đốn, hàng hóa tồn kho cao, thất nghiệp gia tăng, giá lương thực thực phẩm tăng…
Cần những thông điệp mới sau Nghị quyết 11
Câu hỏi đặt ra là tại sao Nghị quyết 11 được các chuyên gia kinh tế đánh giá cao nhưng vẫn tồn tại những hạn chế lớn đó?
Nguyên nhân khách quan vì bị ảnh hưởng lớn từ sự suy thoái của nền kinh tế thế giới. Trong đó phải kể đến cuộc khủng hoảng ở châu Âu, Mỹ và những bất ổn từ Bắc Phi, Trung Đông, Nhật Bản. Đặc biệt hơn là khủng hoảng lương thực thực phẩm thế giới đã tác động không nhỏ đến chúng ta. Bên cạnh đó là lạm phát của các nước trong khu vực trong năm nay đều tăng gấp đôi so với năm trước.
Nhưng tất cả các nước nêu trên cũng đều chịu ảnh hưởng bởi các nguyên nhân khách quan. Song lạm phát của họ thấp hơn rất nhiều so với chúng ta. Điều đó thể hiện những nguyên nhân bên trong của nền kinh tế khiến chúng ta bị ảnh hưởng rất sâu sắc, tạo thành tác động kép khiến lạm phát tăng cao.
Cụ thể, một chính sách khi vừa đưa ra cần có độ trễ khi ban hành và chúng ta phải mất một thời gian triển khai. Thứ hai, khi chúng ta thực hiện nghị quyết lại rơi đúng vào thời điểm cuối nhiệm kỳ nên ít hay nhiều cũng mất một thời gian chuyển tiếp. Điều này đã tạo một khoảng lặng trong chính sách. Thứ ba, chúng ta chưa có những đợt tổng kết cụ thể sau khi đưa ra nghị quyết. Chẳng hạn, phải tổng kết ba tháng hoặc sáu tháng một lần. Bởi nền kinh tế luôn biến động, những giải pháp đưa ra đúng nhưng cần linh hoạt với từng thời điểm. Thứ tư, hiện nay vấn đề đầu tư công chưa rõ thế nào, điều đó thể hiện thiếu tính quyết liệt.
Vì thế, Chính phủ cần phải nhanh chóng đưa ra những thông điệp rõ ràng và minh bạch. Kiên định tinh thần mục tiêu của Nghị quyết 11, đó là ưu tiên kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế.
Mạnh tay bơm vốn sản xuất trong bốn tháng cuối năm
Trong tình hình lạm phát tăng cao như vậy, một trong những điều người dân mong đợi nhất là giá cả phải giảm. Vậy chúng ta phải làm gì?
Trước hết, Ngân hàng Nhà nước phải bơm tiền để hỗ trợ vốn cho sản xuất kinh doanh. Nên chia tín dụng thành hai loại: tín dụng tiêu dùng và tín dụng cho sản xuất kinh doanh. Hoặc là tín dụng cho cá nhân và tín dụng cho doanh nghiệp. Bởi vì, dư địa của chính sách tiền tệ của chúng ta còn rất lớn. Cụ thể, theo Nghị quyết 11, Chính phủ đã xác định chỉ tăng cung tiền ở mức 16%/năm, trong khi tám tháng đầu năm cung tiền của chúng ta mới chỉ là 4%. Như thế, còn những 12% mới đến mốc quy định.
Thứ hai, Nghị quyết 11 nêu rõ dư nợ tín dụng không quá 20%/năm. Nhưng trong tám tháng đầu năm dư nợ của chúng ta mới 7,5%, vậy còn 12,5% nữa mới đến mốc quy định.
Bên cạnh đó, Chính phủ phải có thông điệp rõ ràng về việc kêu gọi toàn dân tiết kiệm là quốc sách hàng đầu. Mặt khác, cần cắt giảm những lễ hội không cần thiết. Ở nước ngoài, họ chỉ tập trung vào những lễ hội lớn, trọng đại của đất nước.
Một nguyên nhân khác nữa, đang là điểm yếu của chúng ta so với các nước trong khu vực là việc mua và bán không có hóa đơn, chứng từ. Chúng ta có nhiều ban bệ kiểm tra, thanh tra, quản lý thị trường nhưng giá cả vẫn bị đẩy lên vù vù.
Hỗ trợ nông nghiệp là hỗ trợ cho 70% dân số
Chúng ta có thể bị sốc giá về công nghệ điện tử hay là một lĩnh vực nào khác chứ không thể để một nước mạnh về nông nghiệp mà vẫn bị sốc giá về lương thực thực phẩm. Đã có nhiều tin đồn nhảm nhằm làm giá, làm ảnh hưởng đến thực phẩm của chúng ta. Điều này chứng tỏ đã và đang có sự đầu cơ lũng loạn trong lĩnh vực này. Vì thế, Chính phủ phải có những gói giải pháp chỉ dành riêng cho lĩnh vực nông nghiệp. Vì đây chính là một mũi tên trúng nhiều mục đích.
Hỗ trợ nông nghiệp nghĩa là chúng ta hỗ trợ 70% dân số cả nước đang sống ở nông thôn. Trong đó, 48,6% lao động của cả nước làm việc trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản… Trong đó lương thực thực phẩm, ăn uống chiếm 39,9% trong tổng chỉ số giá tiêu dùng (CPI). Như vậy mới là góp phần ổn định đời sống, an sinh xã hội. Mặt khác, chúng ta là một nước có lợi thế về nông nghiệp. Ngành này đang xuất siêu, xuất càng nhiều thì sẽ giảm được nhập siêu.
Muốn vậy phải ưu tiên cho thủy lợi, đường sá, vận chuyển, cung vốn, khoa học công nghệ, giống, đặc biệt phải hình thành các kho bãi trong việc lưu trữ thực phẩm. Chúng ta đã có kho dự trữ lúa, vậy tại sao không có kho dự trữ thịt heo, thịt gà, rau, củ, quả… Phải đẩy mạnh công nghiệp hóa nông thôn, đưa công nghiệp phục vụ cho nông nghiệp.
PGS-TS TRẦN HOÀNG NGÂN
Tuyên bố trách nhiệm:Bài viết được lấy nguyên văn từ nguồn tin nêu trên. Mọi thắc mắc về nội dung bài viết xin liên hệ trực tiếp với tác giả. Chúng tôi sẽ sửa, hoặc xóa bài viết nếu nhận được yêu cầu từ phía tác giả hoặc nếu bài gốc được sửa, hoặc xóa, nhưng vẫn bảo đảm nội dung được lấy nguyên văn từ bản gốc.
Ngày 15-9, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã làm việc với lãnh đạo chủ chốt Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn về tình hình thực hiện nghị quyết số 26-NQ/TW hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
Trong hai mươi lăm năm đổi mới, nhờ vào các yếu tố đầu vào như đất đai, nước tưới, lao động, vật tư…, lĩnh vực nông nghiệp nông thôn đã duy trì được mức tăng trưởng cao đều đặn 4-5%, giúp Việt Nam đạt được những thành công đáng kể về phát triển kinh tế xã hội: đảm bảo an ninh lương thực, xóa đói giảm nghèo, duy trì mức xuất siêu nông sản…
Tổng hợp tại 4 thành phố, có tới 26% số hộ nấu ăn 3 lần/ngày; 68-74% số hộ nấu ăn 2 lần ngày; chỉ có 8% số hộ nấu ăn một lần trong ngày. Các doanh nhân thường chỉ tự nấu ăn 2-4 lần/tuần, con số này chiếm tỷ lệ 2% số hộ gia đình.
Trong sản xuất vụ mùa năm nay, nông dân trong tỉnh Gia Lai đã tự phát mở rộng diện tích và chuyển đổi hàng ngàn ha các loại cây trồng không theo quy hoạch, gồm 1.200 ha mía, 400ha tiêu, 200ha càphê và gần 1.000 ha điều trồng tái canh.
Mặc dù đã được triển khai gần 20 năm nhưng việc sản xuất giống lúa lai của nước ta hiện mới chỉ đáp ứng một phần nhỏ nhu cầu. Theo số liệu từ Cục Trồng trọt (Bộ NN&PTNT), trên 70% lượng hạt giống lúa lai F1 phục vụ sản xuất trong nước phải nhập từ nước ngoài, chủ yếu là Trung Quốc.
Suy nghĩ về vấn đề bức bách nhất mà ngành nông nghiệp chưa làm được là ổn định đầu ra của sản phẩm, GS Võ Tòng Xuân có bài viết đề cập các tình huống dẫn đến những thất bại và thành công vừa qua của thị trường nông nghiệp Việt Nam, phân tích những điều kiện đáp ứng thị trường, và phương pháp vĩ mô cần áp dụng để tạo thị trường, với thí dụ thành công của Malaysia về dầu cọ.
Thành tựu của ngành trồng lúa ở Việt Nam đã được thế giới khen ngợi, thế nhưng chúng ta vẫn day dứt vì những nông dân trồng lúa là những người nghèo nhất.
Việc đưa thực hành nông nghiệp tốt (GAP) vào canh tác sản xuất trái cây, chủ yếu phục vụ xuất khẩu và còn lại cho nội địa, từ nhiều năm gần đây trở thành "phong trào" ở nhiều địa phương. Nhưng cho đến nay, không ít mô hình đã đi vào bế tắc vì nhiều lý do, chủ yếu là không tìm được đầu ra.
Trong những năm gần đây, nông nghiệp Việt Nam luôn đạt sự tăng trưởng khá, một số sản phẩm nông nghiệp chiếm vị thế cao trên thị trường quốc tế, thế nhưng ngành nông nghiệp Việt Nam thường trong tình trạng được mùa, mất giá.
GS.TS Võ Tòng Xuân, nhà khoa học có uy tín trong lĩnh vực nông nghiệp đề xuất với Chính phủ cần sớm có chính sách “Nông nghiệp thời WTO”, nhằm có mức đầu tư đúng và phù hợp với giai đoạn hiện nay, chứ không thể để nông dân “tự bơi”.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.