Theo ILO, điều quan trọng là chuyển dịch người có việc làm sang nhóm lao động làm công ăn lương có chất lượng nhằm giảm thiểu sự tổn thương và số lượng lao động nghèo - Ảnh: Việt Tuấn.
Cơ cấu thị trường lao động Việt Nam đang thay đổi, nhiều vị thế công việc đã được cải thiện, tuy nhiên phần lớn công việc vẫn có chất lượng thấp, vẫn tồn tại nguy cơ thiếu việc làm bền vững.
Đó là những nội dung quan trọng được công bố trong ấn phẩm đầu tiên về "Xu hướng việc làm Việt Nam" do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) phối hợp thực hiện.
Lao động nông nghiệp là chủ yếu
Tổ chức Lao động quốc tế cho rằng, nhìn vào nhóm dân số có việc làm, có thể nhận thấy một số xu hướng quan trọng, Việt Nam mặc dù đã có một số thành phố lớn, vẫn là một nước nặng về nông nghiệp, nông thôn, do đó, nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế quan trọng nhất và lao động ở ngành nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng việc làm lớn nhất.
Theo số liệu điều tra của ILO, năm 2007 có 23,8 triệu người có việc làm trong ngành này, chiếm khoảng 52% tổng số người có việc làm. So với những năm trước, lao động nông nghiệp đã có xu hướng giảm, tuy nhiên tính chất nông thôn và sự phụ thuộc nặng nề vào nông nghiệp phản ánh thị trường lao động Việt Nam vẫn đứng trước nguy cơ thiếu việc làm bền vững.
Lý giải thực trạng trên, một chuyên gia của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cho rằng, ở nông thôn, tỷ lệ lao động thiếu việc làm luôn ở mức cao, vì việc nhà nông thường theo thời vụ. Cụ thể, theo điều tra của Bộ này, năm 2008, tỷ lệ lao động thiếu việc làm ở nông thôn là 6,1%, trong khi mức này ở thành thị chỉ chiếm 2,3%.
Báo cáo "Xu hướng việc làm" của ILO cũng cho thấy, các ngành nghề tiếp theo chiếm tỷ lệ lao động lớn bao gồm, ngành công nghiệp chế biến với khoảng 12%. Ngành này đóng vai trò lớn đối với thị trường lao động khi cung cấp việc làm cho 5,6 triệu người (năm 2007), tăng hơn 2 triệu so với cuối những năm 90.
Đứng thứ ba là ngành thương nghiệp (bao gồm cả sửa chữa xe có động cơ) thu hút 4,8 triệu lao động, chiếm gần 11% . Với 2,6 triệu lao động, ngành xây dựng cũng là một trong những ngành có nhiều lao động, chiếm khoảng 6%.
Ngoài ra, báo cáo của ILO còn phản ánh một thực trạng dẫn đến việc thiếu việc làm hiệu quả do nhóm lao động giản đơn hiện vẫn chiếm tỷ lệ lớn nhất. Năm 2007, nhóm lao động giản đơn là 28,1 triệu người, chiếm 62% tổng số người có việc làm. Trong đó, nam giới chiếm 58% tổng số nam giới có việc làm, và nữ giới lao động giản đơn chiếm tới 66% tổng số nữ giới có việc làm.
Lao động "không được trả lương" chiếm số lượng lớn
Các số liệu thu thập được trong báo cáo về xu hướng việc làm của ILO chia vị thế công việc làm bốn loại: lao động làm công ăn lương, tự làm có thuê lao động (chủ sơ sở sản xuất kinh doanh), lao động tự làm và lao động gia đình không được trả lương (nhóm tự làm có thuê lao động là những lao động tự làm có thuê thêm những lao động làm công ăn lương làm việc cho mình).
Bà Nguyễn Thị Hải Vân, Phó cục trưởng Cục Việc làm, Giám đốc Trung tâm Quốc gia dự báo và thông tin Thị trường lao động cũng cho biết, những năm gần đây, vị thế công việc được cải thiện đáng kể. Tuy nhiên, nhóm vị thế công việc lớn nhất trong những năm qua là lao động gia đình "không được trả lương". Năm 2007, nhóm này chiếm 42% tổng số người có việc làm. Nhóm lớn thứ hai là những lao động tự làm, chiếm 34%. 23% còn lại là những người làm công ăn lương.
Nhóm lao động “không được trả lương” được xác định gồm những người làm việc cho nông trại hoặc công việc sản xuất kinh doanh của gia đình nhưng không nhận tiền công. Những người này thường là vợ, chồng hoặc con cái của người chủ/người điều hành công việc kinh doanh, nhưng cũng có thể là thành viên của một gia đình lớn như ông, bà, cháu, cô, dì, chú, bác.
Theo kết quả khảo sát, đang có sự khác biệt giữa hai giới ở nhóm lao động gia đình không được trả lương; hơn một nửa (trên 53%) tổng số phụ nữ có việc làm là những người làm việc cho gia đình không được trả lương, so với tỷ lệ 32% ở nam giới.
Kết quả này là một con số thống kê đáng chú ý, bởi vì nó thể hiện một cách rõ ràng rằng hơn nửa số phụ nữ có việc làm ở nước ta không nhận tiền lương cho công việc mà họ làm. Thông tin này cũng không cho biết được là sức lao động của những người phụ nữ này đã tạo ra bao nhiêu thu nhập cho gia đình.
Bàn về vấn đề này, các chuyên gia trong lĩnh vực lao động cho rằng, người có việc làm là lao động gia đình không được trả lương/trả công ít có khả năng được bố trí công việc chính thức. Đây là đối tượng lao động dễ bị tổn thương, vì thế, khi tỷ trọng lao động này lớn, có thể thiếu các yếu tố liên quan tới việc làm bền vững.
Năm 2007, số việc làm dễ bị tổn thương chiếm 77% tổng số việc làm của cả nước. Đặc biệt ở Việt Nam, nữ giới phải chịu nhiều khả năng bị tổn thương hơn nam giới. Cụ thể, 78% nữ giới có việc làm thuộc về nhóm lao động tự làm và lao động gia đình, so với tỷ lệ cũng rất cao của nam giới là 75% (năm 2007).
Theo ILO, tỷ lệ việc làm dễ bị tổn thương cao là dấu hiệu của tình trạng đói nghèo phổ biến. Vì thế, tổ chức này cho rằng, trong những năm tới, điều quan trọng là chuyển dịch người có việc làm sang nhóm lao động làm công ăn lương có chất lượng nhằm giảm thiểu sự tổn thương và số lượng lao động nghèo.
Tuy thị trường xuất khẩu lao động được dự báo khả quan hơn trong năm nay nhưng ghi nhận thực ở một số doanh nghiệp, họ vẫn phải sống dựa vào lĩnh vực khác.
Trung tâm giới thiệu việc làm Hà Nội (Sở Lao động Thương binh và Xã hội) chiều 9-3 cho biết, lần đầu tiên, một sàn giao dịch việc làm lưu động sẽ được tổ chức góp phần giải quyết việc làm cho thanh niên Thủ đô.
Theo báo cáo Xu hướng việc làm Việt Nam lần đầu tiên được Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội phối hợp với Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) nghiên cứu và công bố: Hơn 77% lực lượng lao động nước ta thuộc nhóm có nguy cơ thiếu việc làm bền vững và dễ rơi vào nghèo đói.
Phụ nữ đi làm việc ở nước ngoài là đối tượng đặc biệt dễ bị tổn thương do những công việc mang tính chất đặc thù về giới, như giúp việc gia đình, hộ lý, chăm sóc…
Trong lúc cả nước phải đương đầu với những khó khăn, thách thức do khủng hoảng tài chính toàn cầu tác động thì Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62 huyện nghèo ra đời.
Theo thống kê chưa đầy đủ, hằng năm miền Trung có hàng chục vạn lao động vào Nam tìm việc. Họ là những thanh niên nông thôn không có cơ hội làm việc tại quê nhà. Không trình độ, không tay nghề, chỉ có sức khoẻ... Và miền Nam là vùng đất để họ kiếm sống.
Năm 2010, Hàn Quốc sẽ tiếp nhận thêm 12.500 lao động Việt Nam theo chương trình Luật cấp phép lao động nước ngoài (EPS). Đây là khẳng định của Trưởng Đại diện Cơ quan phát triển nguồn nhân lực Hàn Quốc tại Việt Nam Lee Myong Hee.
- Đúng như nhận định của các chuyên gia lao động, khi khủng hoảng tài chính xảy ra, nhiều doanh nghiệp (DN) đã sa thải hàng loạt lao động. Và hậu quả là từ nửa cuối năm 2009 đến nay, các DN lại lâm vào tình trạng thiếu hụt nhân lực cả về lượng và chất. Bước sang năm 2010, nhiều DN đã phải thuê lao động nước ngoài. Song để phát huy hiệu quả lao động nước ngoài cũng như tìm cách cải thiện chất lượng lao động bản địa ở từng DN không phải dễ.
Dạy nghề cho lao động bị thu hồi đất canh tác; đào tạo nghề kết hợp với học văn hóa, dạy nghề trực tiếp trên đồng ruộng… là các giải pháp được các Bộ, ngành, địa phương triển khai.
Dạy nghề cho lao động nông thôn cần triển khai theo mục tiêu “6 có” là: có trường dạy nghề, có cơ sở vật chất, có chương trình đào tạo, có giáo viên, có chính sách cho người học và đặc biệt là có nhu cầu đặt hàng lao động của các doanh nghiệp.
Cách đây vài năm, bài toán xuất khẩu lao động (XKLÐ) để giảm nghèo là chuyện của Tỉnh ủy, UBND và các cấp, ngành trong tỉnh, còn người lao động (NLÐ), đối tượng trực tiếp lại luôn tạo ra rào cản, khiến số NLÐ đi làm việc ở nước ngoài vẫn ở số lượng rất ít, thì đến nay mọi chuyện đã khác. XKLÐ ở Quảng Ngãi đã có được những con số đáng mong đợi.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Ngày 5-3, tại Hà Nội, đoàn công tác của Tổ chức Hợp tác Đào tạo Quốc tế Nhật Bản (Jitco) phối hợp với Cục Quản lý Lao động Ngoài nước (Bộ LĐ-TB&XH) công bố các điểm mới trong nội dung sửa đổi của luật Quản lý Xuất nhập cảnh và Công nhận tỵ nạn với các doanh nghiệp đang phái cử tu nghiệp sinh/thực tập sinh kỹ năng sang Nhật.
Hai doanh nghiệp tại khu chế xuất Tân Thuận (TP.HCM) mới đây đã đề nghị được phép nhập khẩu lao động phổ thông từ Philippines và Lào. Chuyện này như “giọt nước tràn ly” khi doanh nghiệp tuyển dụng nhiều lần mà không có lao động.
Theo báo cáo Xu hướng việc làm Việt Nam lần đầu tiên được Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội phối hợp với Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) nghiên cứu và công bố: Hơn 77% lực lượng lao động nước ta thuộc nhóm có nguy cơ thiếu việc làm bền vững và dễ rơi vào nghèo đói.
Cơ cấu thị trường lao động Việt Nam đang thay đổi, nhiều vị thế công việc đã được cải thiện, tuy nhiên phần lớn công việc vẫn có chất lượng thấp, vẫn tồn tại nguy cơ thiếu việc làm bền vững.
Năm 2010, Hàn Quốc sẽ tiếp nhận thêm 12.500 lao động Việt Nam theo chương trình Luật cấp phép lao động nước ngoài (EPS). Đây là khẳng định của Trưởng Đại diện Cơ quan phát triển nguồn nhân lực Hàn Quốc tại Việt Nam Lee Myong Hee.
- Đúng như nhận định của các chuyên gia lao động, khi khủng hoảng tài chính xảy ra, nhiều doanh nghiệp (DN) đã sa thải hàng loạt lao động. Và hậu quả là từ nửa cuối năm 2009 đến nay, các DN lại lâm vào tình trạng thiếu hụt nhân lực cả về lượng và chất. Bước sang năm 2010, nhiều DN đã phải thuê lao động nước ngoài. Song để phát huy hiệu quả lao động nước ngoài cũng như tìm cách cải thiện chất lượng lao động bản địa ở từng DN không phải dễ.
Các doanh nghiệp tư nhân là khu vực tạo ra nhiều việc làm và với việc tăng nhanh về số lượng, cũng là khu vực có tốc độ tạo ra việc làm lớn nhất so với các thành phần kinh tế khác.
Một bản thoả thuận vừa được ký giữa bang Saskatchewan của Canada với đại sứ nước ta tại đây với mục tiêu sẽ hợp tác để đưa lao động Việt Nam sang làm việc.
Tổng cục Dạy nghề, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cho biết, trong năm 2009, các cơ sở dạy nghề đã tuyển sinh được hơn 1 triệu người, tăng 11,2% so với năm 2008. Năm 2010, dự kiến sẽ tuyển sinh, tổ chức đào tạo nghề mới cho 1.748.000 người, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề lên 30%.
Thị trường lao dộng Việt Nam là thị trường dư thừa lao động và phát triển không đồng đều, đặc biệt quan hệ cung - cầu lao động giữa các vùng, khu vực, ngành nghề đang diễn ra tình trạng mất cân đối nghiêm trọng.
Vừa qua, Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ Lao động - Thương binh và xã hội ) đã phê duyệt hợp đồng cho phép 7 doanh nghiệp xuất khẩu lao động tham gia “Đề án thí điểm đào tạo nghề cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo cơ chế đặt hàng”.
Vấn đề nhân sự từ lâu đã là một chủ đề nóng, thu hút sự quan tâm của được nhiều bộ, ngành, các cơ quan quản lý. Tại Ngày nhân sự Việt Nam – Ngày hội tôn vinh nghề nghiệp của những người làm công tác nhân sự ở Việt Nam vừa diễn ra tại Trung tâm Hội nghị Quốc Gia Mỹ đình cũng đã đặt ra nhiều vấn đề phải bàn.