Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quan tâm đang đề nghị nâng mức nghỉ thai sản từ 4 tháng lên 6 tháng và sẽ được quy định rõ trong bộ Luật Lao động sửa đổi.
Tại hội thảo lấy ý kiến về chính sách thai sản 6 tháng trong dự thảo bộ Luật Lao động sửa đổi do Vụ Pháp chế, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tổ chức ngày 19/9, nhiều ý kiến cho rằng, hiện tại hầu khắp các khu công nghiệp, khu chế xuất trên cả nước, tình trạng không có nhà trẻ khiến nhiều lao động sau khi hết thời gian nghỉ sinh 4 tháng theo qui định hiện hành thì vẫn phải tiếp tục xin nghỉ không lương để ở nhà chăm con.
Kết quả điều tra của Ban Nữ công Tổng liên đoàn lao động Việt Nam về nghỉ thai sản và nuôi con bằng sữa mẹ của lao động nữ tại một số khu công nghiệp lớn, sử dụng nhiều lao động nữ của 12 tỉnh, thành phố trên cả nước cũng cho thấy, hiện mới có 5,7% doanh nghiệp có dịch vụ trông trẻ, nhưng 97,2% không nhận trông trẻ dưới 4 tháng tuổi…
Theo bà Nguyễn Thu Hồng, Phó ban Nữ công, trong khi mức thu nhập của công nhân còn thấp thì việc thiếu chỗ gửi trẻ, thiếu người trông trẻ, đặc biệt là khoản tiền để gửi con chính là áp lực dồn lên họ sau khi sinh con.
Bà Hồng cho rằng, đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn tới tình trạng lao động nữ ở nhiều khu công nghiệp không trở lại làm việc sau thời gian nghỉ sinh.
Tại thôn Bầu, xã Kim Chung, Đông Anh, Hà Nội, nơi có khu công nghiệp Thăng Long với hàng trăm doanh nghiệp lớn nhưng công nhân nơi đây cho biết, kiếm được một nhà trẻ để gửi con với họ là cực kỳ khó khăn.
Giải pháp mà lao động ở đây lựa chọn là phải đón người nhà ở quê lên làm “ô sin” bất đắc dĩ, đợi cho đứa bé cứng cáp hơn một chút sẽ gửi về quê nhờ ông bà nuôi.
Tại Hưng Yên, đại diện Tổng công ty May Hưng Yên, đơn vị đang sử dụng 12.000 lao động, trong đó 70% là lao động nữ cũng đã nêu thực trạng lao động nữ thường nghỉ 5 tháng sau khi sinh con, nhưng sau đó vẫn phải xin nghỉ thêm không lương.
Khảo sát của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam cho thấy, trong thời gian nghỉ thai sản, có 81,5% nữ công nhân lao động được hưởng lương hoặc bảo hiểm xã hội từ 4 đến 5 tháng; Tuy nhiên, mức lương trong thời gian nghỉ thai sản còn quá thấp, chỉ từ 700 nghìn đồng đến 1, 2 triệu đồng/tháng. Vẫn còn 9% không được doanh nghiệp trả lương và bảo hiểm xã hội.
Trong khi đó, Quỹ Bảo hiểm xã hội chế độ ốm đau, thai sản số hiện vẫn còn dư trên 7.100 tỷ đồng.
Ông Nguyễn Hùng Cường, Phó trưởng ban thực hiện chính sách, Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho biết, từ năm 2007 đến 2010, quỹ ốm đau và thai sản do người sử dụng lao động đóng bằng 3% quỹ lương đã thu được hơn 19,8 nghìn tỷ đồng. Tuy nhiên, số tiền chi cho chế độ ốm đau, thai sản và dưỡng sức chỉ đạt 68,07%, trong đó chi cho trợ cấp sinh con và nuôi con chiếm 46%. Như vậy, số tiền dư quỹ đến cuối năm 2010 (kể cả lãi đầu tư) còn hơn 7,1 nghìn tỷ đồng, chiếm đến hơn 30%.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam tính toán, nếu giữ nguyên mức hưởng các chế độ thai sản theo quy định hiện hành, thì khi tăng thời gian thai sản lên 6 tháng, số tiền chi trả trợ cấp ốm đau và thai sản cũng chỉ đạt ở mức hơn 85% và đến năm 2030 số chi bằng 92% số thu. Như vậy, quỹ dự phòng vẫn còn 8%, quỹ vẫn đảm bảo ở mức an toàn.
Vì vậy, cùng với việc đồng tình nâng chế độ thai sản lên 6 tháng, Bảo hiểm xã hội Việt Nam cũng kiến nghị không tăng mức đóng của doanh nghiệp, nhưng tăng quyền lợi hưởng chế độ ốm đau, thai sản của người tham gia bảo hiểm xã hội, nhằm cải thiện đời sống cho lao động nữ.
Cho đến thời điểm này, Hàn Quốc vẫn được xem là thị trường tiếp nhận lao động số một tại Việt Nam khi chỉ tiêu và công việc cho lao động tại đây khá ổn định. Đặc biệt, thu nhập của người lao động khá cao với trung bình khoảng 1.000 USD/tháng.
Tại nhiều địa phương đang có tình trạng người lao động nghỉ việc “ảo” để được hưởng trợ cấp thất nghiệp cũng như doanh nghiệp “bắt tay” với người lao động để trục lợi.
Nhiều năm qua, sự khủng hoảng nhân lực trẻ đã thúc đẩy các DN tìm đến với các trường đại học, dạy nghề để gây dựng đội ngũ lao động tiềm năng. Một số các dự án của sinh viên nhờ có “Mạnh thường quân” là các DN đỡ đầu, có thêm cơ sở vật chất để lý thuyết được triển khai trong thực tiễn.
Một năm mang về cho đất nước trên dưới 2 tỉ đô la Mỹ, xuất khẩu lao động được xem là một trong những ngành mang lại giá trị thặng dư cao. Tuy vậy, ngành này hiện đang còn có quá nhiều việc phải hoàn thiện.
Việt Nam đang mất dần lợi thế giá lao động rẻ và do vậy Chính phủ cần có các chính sách phù hợp để hỗ trợ các doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh bằng việc đầu tư vào các giải pháp xanh và công nghệ mới.
Số liệu từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, 8 tháng qua, cả nước tạo việc làm cho khoảng 992 nghìn người, đạt 62% kế hoạch năm, trong đó xuất khẩu lao động khoảng 61.800 người, đạt 71% kế hoạch năm.
Báo cáo chỉ số thị trường nhân lực trực tuyến Việt Nam tháng 8/2001 của VietnamWorks, nhà cung cấp các dịch vụ tuyển dụng trực tuyến lớn nhất Việt Nam cho thấy những dấu hiệu tích cực của thị trường lao động.
Cục Quản lý lao động ngoài nước cho biết, số kiều hối lao động đi làm việc ở nước ngoài gửi về nước trong 6 tháng đầu năm 2011 là 1 tỷ USD. Theo đó, ước cả năm 2011 lao động xuất khẩu sẽ gửi về nước khoảng 1,8 tỷ USD.
Tình trạng lao động nước ngoài cư trú bất hợp pháp tại Hàn Quốc đang ngày càng nhiều. Chính phủ Hàn Quốc lo ngại số lượng này tiếp tục gia tăng khi lao động nhập cư kết thúc hợp đồng trong năm nay là rất lớn.
Chỉ tiêu mà Bộ Lao đông - Thương binh và Xã hội dự kiến trong năm 2012 là giải quyết việc làm cho 1,6 triệu người, trong đó tạo việc làm trong nước là 1.510 nghìn người, đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài là 90 nghìn người, tăng 3 nghìn người so với năm 2011.
Việt Nam đã phải chi một khoản ngân sách khá lớn trong sự cố khủng hoảng chính trị tại Libya hồi tháng 2, khiến hơn 10.000 lao động phải về nước trước thời hạn.
Thị trường lao động 2011 tiếp tục tồn tại nghịch lý là tỷ lệ thất nghiệp vẫn ở mức cao trong khi nhiều địa phương và doanh nghiệp lại gặp khó khăn trong tuyển dụng.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Ngày 5-3, tại Hà Nội, đoàn công tác của Tổ chức Hợp tác Đào tạo Quốc tế Nhật Bản (Jitco) phối hợp với Cục Quản lý Lao động Ngoài nước (Bộ LĐ-TB&XH) công bố các điểm mới trong nội dung sửa đổi của luật Quản lý Xuất nhập cảnh và Công nhận tỵ nạn với các doanh nghiệp đang phái cử tu nghiệp sinh/thực tập sinh kỹ năng sang Nhật.
Hai doanh nghiệp tại khu chế xuất Tân Thuận (TP.HCM) mới đây đã đề nghị được phép nhập khẩu lao động phổ thông từ Philippines và Lào. Chuyện này như “giọt nước tràn ly” khi doanh nghiệp tuyển dụng nhiều lần mà không có lao động.
Theo báo cáo Xu hướng việc làm Việt Nam lần đầu tiên được Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội phối hợp với Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) nghiên cứu và công bố: Hơn 77% lực lượng lao động nước ta thuộc nhóm có nguy cơ thiếu việc làm bền vững và dễ rơi vào nghèo đói.
Cơ cấu thị trường lao động Việt Nam đang thay đổi, nhiều vị thế công việc đã được cải thiện, tuy nhiên phần lớn công việc vẫn có chất lượng thấp, vẫn tồn tại nguy cơ thiếu việc làm bền vững.
Năm 2010, Hàn Quốc sẽ tiếp nhận thêm 12.500 lao động Việt Nam theo chương trình Luật cấp phép lao động nước ngoài (EPS). Đây là khẳng định của Trưởng Đại diện Cơ quan phát triển nguồn nhân lực Hàn Quốc tại Việt Nam Lee Myong Hee.
- Đúng như nhận định của các chuyên gia lao động, khi khủng hoảng tài chính xảy ra, nhiều doanh nghiệp (DN) đã sa thải hàng loạt lao động. Và hậu quả là từ nửa cuối năm 2009 đến nay, các DN lại lâm vào tình trạng thiếu hụt nhân lực cả về lượng và chất. Bước sang năm 2010, nhiều DN đã phải thuê lao động nước ngoài. Song để phát huy hiệu quả lao động nước ngoài cũng như tìm cách cải thiện chất lượng lao động bản địa ở từng DN không phải dễ.
Các doanh nghiệp tư nhân là khu vực tạo ra nhiều việc làm và với việc tăng nhanh về số lượng, cũng là khu vực có tốc độ tạo ra việc làm lớn nhất so với các thành phần kinh tế khác.
Một bản thoả thuận vừa được ký giữa bang Saskatchewan của Canada với đại sứ nước ta tại đây với mục tiêu sẽ hợp tác để đưa lao động Việt Nam sang làm việc.
Tổng cục Dạy nghề, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cho biết, trong năm 2009, các cơ sở dạy nghề đã tuyển sinh được hơn 1 triệu người, tăng 11,2% so với năm 2008. Năm 2010, dự kiến sẽ tuyển sinh, tổ chức đào tạo nghề mới cho 1.748.000 người, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề lên 30%.
Thị trường lao dộng Việt Nam là thị trường dư thừa lao động và phát triển không đồng đều, đặc biệt quan hệ cung - cầu lao động giữa các vùng, khu vực, ngành nghề đang diễn ra tình trạng mất cân đối nghiêm trọng.
Vừa qua, Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ Lao động - Thương binh và xã hội ) đã phê duyệt hợp đồng cho phép 7 doanh nghiệp xuất khẩu lao động tham gia “Đề án thí điểm đào tạo nghề cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo cơ chế đặt hàng”.
Vấn đề nhân sự từ lâu đã là một chủ đề nóng, thu hút sự quan tâm của được nhiều bộ, ngành, các cơ quan quản lý. Tại Ngày nhân sự Việt Nam – Ngày hội tôn vinh nghề nghiệp của những người làm công tác nhân sự ở Việt Nam vừa diễn ra tại Trung tâm Hội nghị Quốc Gia Mỹ đình cũng đã đặt ra nhiều vấn đề phải bàn.