Làng nghề ở Tiền Hải, Thái Bình đang có nguy cơ bị mai một
Tổng kết 6 tháng đầu năm, mặc dù giá trị sản xuất CN-TTCN của Tiền Hải đạt 660 tỷ đồng, tăng 18,45% so với cùng kỳ năm 2010, nhưng chỉ đạt ... 41,37% mục tiêu cả năm. Nguyên nhân chính được xác định là do hoạt động của làng nghề Tiền Hải đang có chiều hướng đi xuống.
Hoạt động thoi thóp (!)
Sau 10 năm thực hiện chủ trương của tỉnh Thái Bình về phát triển làng nghề, 20/35 xã của Tiền Hải đã có làng nghề. Trong đó, có 27 làng nghề đủ tiêu chuẩn được tỉnh cấp bằng công nhận, thu hút gần 30 nghìn lao động. Các cơ sở sản xuất mỗi năm đóng góp cho nhà nước cả chục tỷ đồng. Một số nghề như móc sợi, móc hộp, đan mũ xuất khẩu có doanh thu từ 35- 55 tỷ VNĐ/năm. Nhiều làng nghề như Thanh Giám- xã Đông Lâm, giá trị sản xuất của nghề chiếm 64% trong tổng giá trị sản xuất chung của làng. Hai làng nghề dệt chiếu, mây tre đan của xã Nam Hải cũng có giá trị sản xuất chiếm hơn 50%. Vì vậy, mỗi năm các làng nghề làm ra hàng trăm tỷ VNĐ, góp phần cùng công nghiệp tập trung đưa giá trị sản xuất CN- TTCN chiếm hơn 40% trong tổng giá trị sản xuất các ngành kinh tế của huyện.
Tuy nhiên, từ đầu năm 2010 đến nay, làng nghề của Tiền Hải gặp rất nhiều khó khăn. Hiện nay, Tiền Hải có 5 làng nghề ngừng hoạt động, gồm: Làng thảm cói Văn Hải-xã Đông Phong, làng chiếu trúc Hưng Đạo- xã Vũ Lăng, làng thêu ren Trung Đức- xã Đông Trung, làng thêu Lạc Thành- xã Tây Ninh, làng dệt chiếu Rưỡng Trực xã Nam Thắng, 10 làng nghề khác đi vào khủng hoảng với sức sản xuất giảm sút nghiêm trọng, giá trị sản xuất chỉ còn lại chưa tới 1/3 so với trước đây. Và hiện, toàn huyện chỉ còn 12 làng nghề đủ tiêu chuẩn tái nhận bằng công nhận làng nghề truyền thống. Đồng hành với sự đi xuống của làng nghề là hoạt động sản xuất của DN và cơ sở cũng vấp phải vô vàn khó khăn, nhiều đơn vị phải thu hẹp quy mô sản xuất hoặc hoạt động cầm chừng.
Nguyên nhân?
Ông Trần Lâm Thao - Trưởng phòng Công thương huyện cho biết: “Làng nghề Tiền Hải đang tiến đến bờ vực “phá sản” do chưa sẵn sàng cho hội nhập, không trụ nổi trước lạm phát, suy thoái kinh tế và có phần phát triển ồ ạt. Các mặt hàng do làng nghề của huyện làm ra chất lượng thấp, chưa xây dựng được thương hiệu sản phẩm đồng thời đầu ra khó khăn, chi phí đầu đầu vào tăng vọt. Bên cạnh đó, ngày công của người lao động làng nghề rất thấp, trung bình từ 450.000VNĐ - 900.000VNĐ/người/tháng. Trong khi đó, công lao động xã hội lại ở mức cao, lên tới hàng trăm ngàn VNĐ/người/ngày.”
Sự đình trệ của làng nghề còn xuất phát từ nguyên nhân chậm đổi mới mẫu mã hàng hoá, thiếu thông tin thị trường... Từ khi thành lập làng nghề đến nay, nhiều sản phẩm không có sự đổi mới, cách tân mẫu mã như nghề làm chiếu, làm hàng thuỷ tinh. Chính sự chậm đổi mới này đã không theo kịp thị hiếu của người tiêu dùng và làm giảm sức cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại của các làng nghề khác.
Bên cạnh đó, nhiều làng nghề được công nhận có phần “chín ép”. Có những làng nghề mới chỉ manh mún đi vào hoạt động, chưa tìm ra được đầu ra, đầu vào của sản phẩm đã được công nhận là làng nghề như: thêu ren ở Trung Đức- xã Đông Trung, dệt chiếu ở Rưỡng Trực- xã Nam Thắng… yếu tố này dẫn đến phát triển ồ ạt, thiếu quy hoạch không có sự sàng lọc làm cho làng nghề phát triển thiếu bền vững.
Theo bà Phạm Thị Ngắn giám đốc DN SX-XNK hàng thủ công mỹ nghệ Tây An: “vấn đề cấp bách của làng nghề Tiền Hải lúc này là đổi mới công nghệ, chọn lựa công nghệ để bảo đảm sản xuất bền vững. Đặc biệt là phải chọn ra những sản phẩm đặc trưng để xây dựng thương hiệu và quảng bá trên thị trường.”
Xây dựng một thương hiệu khó hơn xây dựng một làng nghề vì vậy vấn đề xây dựng thương hiệu là cấp bách của Tiền Hải hiện nay. Được biết, huyện đã có chủ trương phát triển Trung tâm dạy nghề của huyện thành trường đào tạo nhưng vẫn chưa huy động được nguồn kinh phí vì vậy dự án vẫn còn “treo” đó.
Theo số liệu từ phòng Công thương huyện Tiền Hải, những cơ sở sản xuất lớn như: DN Phương Anh, DN SX-XNK hàng thủ công mỹ nghệ Tây An….thu hút trên 20 nghìn lao động, tạo công ăn việc làm cho hàng nghìn lao động khác bằng hình thức khoán sản phẩm đến tận hộ gia đình đang là nhân tố chính để các làng nghề trụ lại trong giai đoạn khó khăn này. Các DN, cơ sở sản xuất này đã chủ động tiêu thụ và mang sản phẩm làng nghề đến với thị trường trong và ngoài nước.
Ông Thao cho biết : “Để làng nghề Tiền Hải không chết mòn, cần tạo mọi điều kiện phát triển DN, cơ sở sản xuất làng nghề.Xây dựng trường đào tạo bài bản, tạo kỹ năng cơ bản và lòng yêu nghề cho người lao động.Hiện nay, UBND triển khai Nghị quyết 07/NQ- TU và chương trình mục tiêu quốc gia, chủ trương khởi động trở lại phong trào khôi phục, phát triển làng nghề - 1 trong 19 tiêu chí về nông thôn mới.”
Làng nghề không chỉ là điểm mạnh của lao động nông thôn lúc nông nhàn mà còn đóng góp nhiều mặt hàng vào kim ngạch XK mang thương hiệu Việt ra thị trường thế giới. Vì vậy, cứu lấy làng nghề lúc này là vấn đề cấp bách không chỉ của Tiền Hải mà còn là của toàn xã hội.
Vốn được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác nhưng hiện nhiều làng nghề truyền thống của đồng bào Churu, K’Ho ở tỉnh Lâm Đồng đang đứng trước nguy cơ bị mai một do chưa tìm được hướng đi phù hợp.
Hiệp hội Làng nghề Việt Nam liên tiếp lên tiếng về tình trạng ngày càng đi xuống của các làng nghề. Nhẹ thì gặp khó khăn đầu ra do thị trường thu thu hẹp, lợi nhuận suy giảm khi chi phí và lãi vay tăng lên... nặng thì dừng sản xuất, cắt giảm nhân công.
Một quả dừa sáp - loại trái cây được coi là độc nhất vô nhị của Việt Nam, có giá cao ngất ngưởng từ 190.000-195.000 đồng, vậy mà vẫn không đủ hàng để bán.
Cả nước có khoảng 2.100 làng có nghề, 13 triệu lao động với thu nhập khoảng 0,7 - 3 triệu đồng/người/tháng. Các làng nghề đóng vai trò quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm cho nông dân lúc nông nhàn. Tuy nhiên, "đầu ra" cho sản phẩm làng nghề vẫn còn nhiều khó khăn.
Giá xăng dầu, điện, vật tư nông nghiệp tăng đã đẩy giá thành nhiều mặt hàng tăng cao, trong khi hợp đồng đã ký; khó vay vốn ngân hàng để mua nguyên liệu chế biến… Những khó khăn này đang đẩy nhiều cơ sở, hợp tác xã và doanh nghiệp (DN) ở TPHCM có nguy cơ trắng tay.
Xăng dầu, điện nước, thức ăn... đồng loạt tăng giá khiến các hộ chăn nuôi điêu đứng. Nhiều hộ chỉ sản xuất cầm chừng. Các trang trại (TT) chăn nuôi đang rất cần sự hỗ trợ của Nhà nước để có thể tiếp tục sản xuất kinh doanh.
Nhiều người gọi vùng nam Phú Lộc, tỉnh TT - Huế, là thủ phủ dầu tràm miền Trung. Nghề dầu tràm phục hồi, nhiều chủ lò dầu vẫn không vui bởi thật - giả lẫn lộn.
Năm 2006 một số nhà đầu tư đến xã Tam Thôn Hiệp huyện Cần Giờ TPHCM xây nhà nuôi chim yến. Nhận thấy có hiệu quả, số lượng nhà nuôi chim yến trên địa bàn huyện Cần Giờ ngày càng tăng và mở rộng ra các xã Bình Khánh, An Thới Đông, Lý Nhơn, Long Hòa và thị trấn Cần Thạnh. Nuôi chim yến đã trở thành hướng sản xuất mới ở Cần Giờ sau khi việc nuôi tôm ở đây đi vào thoái trào.
Xã Phú Túc (Phú Xuyên, Hà Nội) từng được ca ngợi là "làng tỉ phú" nhờ có nghề xuất khẩu hàng mây, tre đan. Nhưng hiện nay, hàng trăm cơ sở đang phải "đắp chiếu" hoặc sản xuất cầm chừng, sản phẩm làm ra không xuất khẩu được vẫn ứ đọng trong kho, hàng nghìn lao động không còn việc làm… Các doanh nghiệp đang kêu trời vì đã cạn vốn trong khi nguồn vốn hỗ trợ lãi suất chưa thể tiếp cận.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.