Vốn là một làng lụa cổ nổi tiếng nhưng qua thời gian, nghề đó đã mai một ở Cổ Đô (xã Cổ Đô, Ba Vì, Hà Nội). Nhưng gần đây, Cổ Đô lại được nhiều người biết đến với tiếng thơm là một làng hoạ sĩ, vì hầu hết cả làng đều biết vẽ và đã có hàng trăm hoạ sĩ xuất thân từ làng.
Lớp học với những học viên tuổi muối tiêu.
Chiều ven đê sông Hồng. Một vài chú bò thong dong gặm cỏ dưới triền đê. Ráng chiều rực rỡ chiếu trên luỹ tre, la đà mặt sông. Dưới bến, trên những con thuyền của dân vạn chài, khói bếp đã bắt đầu đưa lên điểm vào chiều quê thanh bình yên ả. Và đây chính là khoảng thời gian và không gian cho những hoạ sĩ tương lai của làng Cổ Đô thực hành bài tập của mình. Từ trong làng, một thầy giáo trẻ dẫn hơn 30 học trò là những người phụ nữ mặt sạm nắng, những người đàn ông đã bước vào tuổi lục tuần với bàn tay chai sần vì quen cầm cày, cầm cuốc ra đê, giảng giải cặn kẽ về bố cục, cách phối màu và thể hiện màu sắc trong bức tranh phong cảnh. Sau bài giảng lý thuyết, anh cho học trò tự tìm góc riêng cho mình để dựng giá vẽ. Và khi chiều đã đậu xuống mặt sông, không gian thẫm lại cũng là lúc thầy trò thu dọn giá vẽ trở về làng.
Sáng cầm cuốc, chiều cầm cọ
Đến Cổ Đô, từ người già đến em bé ai cũng biết đến câu chuyện về ông tổ nghề của làng là hoạ sĩ Sỹ Tốt. Ông không chỉ nổi tiếng trong nước mà còn được nhiều bạn bè thế giới biết đến với nhiều bức tranh đã đoạt giải và để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng người yêu tranh. Hoàng Việt, một hoạ sĩ của làng kể lại, khi Sỹ Tốt sinh ra vào năm 1920 thì làng chưa có ai mê vẽ hay học vẽ cả. Nhưng từ thủa nhỏ ông đã thích vẽ nên hay lê la trong làng dùng bút chì, có khi chỉ là cục than vẽ lại hình ảnh ngôi đình, cổng chùa, cánh đồng quê mình… Rồi ông đi bộ đội và có may mắn tiếp tục phát triển năng khiếu hội hoạ của mình khi được cử đi học tại trường cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam và được chính danh hoạ Tô Ngọc Vân trực tiếp giảng dạy. Rồi ông trở về quê, dùng cây cọ của mình ghi lại hình ảnh làng quê và chân dung những người nông dân lam lũ vất vả nhưng nhân hậu của làng. Lúc đó, người trong làng thấy ông vẽ thì xúm lại xem và bắt đầu say mê. Thấy nhiều người quan tâm đến hội hoạ, Sỹ Tốt đã hết lòng truyền dạy miễn phí. Và từ đây, cái máu hoạ sĩ đã bắt đầu hình thành và chảy trong huyết quản từng người Cổ Đô.
Hỏi về “thành tích” của làng, anh Hoàng Việt cho biết, Cổ Đô có khoảng hơn 100 hoạ sĩ, trong đó có nhiều tên tuổi nổi tiếng được giới hội hoạ đánh giá cao như Trần Hoà, La Vuông, Giang Khích, Sao Mai… Hiện nay, làng có khoảng hơn 32 hoạ sĩ thuộc hội Mỹ thuật Việt Nam. Trong làng, mỗi hoạ sĩ đều có một phòng tranh riêng nho nhỏ tại nhà và nhiều người có phòng tranh trên Hà Nội hoặc có tranh bán tại các gallery ở đây. Cách đây mấy năm, Cổ Đô đã từng ký hợp đồng với Canada và mỗi tháng xuất sang nước này khoảng 200 – 300 bức tranh của làng. Hợp đồng đó đã kết thúc nhưng giờ đây, tranh của Cổ Đô cũng chu du nhiều nước trên thế giới. Vào dịp cuối tuần, Cổ Đô thường đón nhiều đoàn xe của khách du lịch nước ngoài đến tận làng để mua tranh. Những bức tranh của Cổ Đô có bức giá chỉ vài trăm nhưng cũng có bức có giá vài chục triệu.
Nhưng điều đặc biệt khiến chúng tôi thích thú và xúc động là hình ảnh những người nông dân sáng vác cày ra đồng, cày xong đám ruộng, chiều về lại cầm bút vẽ những cảnh sinh hoạt thân thuộc quanh mình. Có lẽ vì thế mà khách nước ngoài rất thích những bức tranh có thể còn ngô nghê về bố cục, chưa chuẩn về màu sắc nhưng thấm đượm cái hồn chân chất của người quê. Những bức tranh được bán đi không phải có giá thật cao nhưng cũng khiến người nông dân Cổ Đô có thêm thu nhập để ổn định cuộc sống. Và vẽ không chỉ trở thành sân chơi nghệ thuật của làng mà đã trở thành nghề để người Cổ Đô mưu sinh. Đó cũng chính là ước muốn để những người con của làng ấp ủ một dự án phát triển Cổ Đô và cách đây hơn hai tháng, họ đã bắt tay vào thực hiện.
Cô bé Thanh Xuân với giá vẽ trên chiếc xe lăn của mình.
Lớp học vẽ cho thương binh và người khuyết tật
Tại sân bảo tàng mỹ thuật làng Cổ Đô, cô bé Hoàng Thanh Xuân, 12 tuổi, đang ngồi trên xe lăn miệt mài đưa những đường cọ trên giá vẽ được đặt trên chính chiếc xe của mình. Cô bé kể, một lần chơi đùa không cẩn thận nên ngã rồi bị liệt cách đây bốn năm. Cuộc sống của em trở nên mù mịt, suốt ngày thui thủi quanh quẩn trong nhà trên chiếc xe lăn. Và rồi, khi lớp học vẽ đặc biệt này được mở ra, em đã được động viên tham gia. Không được vui chơi chạy nhảy như bạn bè nhưng giờ đây em đã có một niềm vui mới là vẽ. Ngày mưa cũng như ngày nắng, Xuân lại miệt mài đẩy chiếc xe lăn từ nhà tới lớp học cách đó gần hai cây số. Giờ đây, em bảo mình đang đến gần ước mơ thành hoạ sĩ và em hy vọng mình sẽ tự kiếm sống bằng chính nghề vẽ của mình.
Tới lớp học do hoạ sĩ Trường Yên đứng lớp, chúng tôi đã rất xúc động trước hình ảnh những người thương binh đầu hai thứ tóc, những người phụ nữ mặt sạm nắng, một chân bị tật, một tay bị khoèo đang miệt mài gò lưng bên giá vẽ. Chị Trần Thị Thật, 47 tuổi, một chân bị tật, cho biết mình vốn làm ruộng nhưng giờ sức khoẻ yếu, chân lại không được như người ta nên chị tham gia lớp học vẽ với hy vọng có một nghề để kiếm sống sau này. Ông Nguyễn Thành Tâm, một thương binh của làng, đến lớp học cũng với mong muốn ấy. Ông có con trai là Thế Luân, một trong những hoạ sĩ thế hệ thứ ba của làng, nhưng giờ đây lại chính là thầy khi ông tham gia lớp vẽ này. Nhắc đến chuyện này, ông cười khà khà bảo: Con hơn cha là nhà có phúc.
Hoạ sĩ Trường Yên cho biết, hiện nay, trong làng đã có bốn lớp học với 120 học trò, được mở cách đây hơn hai tháng, trong đó lớp học dành cho người khuyết tật và thương binh khoảng hơn 30 học viên. Và vào những buổi học vẽ ngoài trời, thầy trò lại kéo nhau ra bờ đê hay cánh đồng để vẽ phong cảnh. Hoạ sĩ Hoàng Việt cho biết, những lớp học này được mở hoàn toàn miễn phí do chính những người con đã là hoạ sĩ hay thầy giáo đứng lớp và cũng không có thù lao. Anh Việt tâm sự, chúng tôi không quan trọng sẽ có bao nhiêu học trò của mình thành hoạ sĩ, mà quan trọng là mỗi người con của làng có thể sống được bằng nghề vẽ tranh.
Vịnh Lăng Cô (Phú Lộc, Thừa Thiên - Huế) là một trong 30 vịnh đẹp nhất thế giới đang bị ô nhiễm nặng khi hàng chục lò nung vôi hàu đêm ngày hoạt động. Hàng chục năm liền, các ban, ngành ở Thừa Thiên - Huế vẫn chưa tìm được lời giải khi lợi nhuận từ việc khai thác vôi hàu khá lớn, khiến người dân bất chấp mọi lệnh cấm.
Qua trao đổi, thảo luận và khảo sát thực tế, đoàn giám sát đã thống nhất 5 nhóm giải pháp để thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường tại các làng nghề ở Bắc Ninh.
Xã Phú Túc (Phú Xuyên, Hà Nội) từng được ca ngợi là "làng tỉ phú" nhờ có nghề xuất khẩu hàng mây, tre đan. Nhưng hiện nay, hàng trăm cơ sở đang phải "đắp chiếu" hoặc sản xuất cầm chừng, sản phẩm làm ra không xuất khẩu được vẫn ứ đọng trong kho, hàng nghìn lao động không còn việc làm… Các doanh nghiệp đang kêu trời vì đã cạn vốn trong khi nguồn vốn hỗ trợ lãi suất chưa thể tiếp cận.
Năm 2006 một số nhà đầu tư đến xã Tam Thôn Hiệp huyện Cần Giờ TPHCM xây nhà nuôi chim yến. Nhận thấy có hiệu quả, số lượng nhà nuôi chim yến trên địa bàn huyện Cần Giờ ngày càng tăng và mở rộng ra các xã Bình Khánh, An Thới Đông, Lý Nhơn, Long Hòa và thị trấn Cần Thạnh. Nuôi chim yến đã trở thành hướng sản xuất mới ở Cần Giờ sau khi việc nuôi tôm ở đây đi vào thoái trào.
Trước Tết Nguyên đán, nhiều làng nghề rộn ràng, tất bật. Nhiều cơ sở sản xuất, gia đình làm hết công suất vẫn không đủ hàng phục vụ Tết. Làng nghề mỗi năm sôi động chỉ được một vài dịp có lễ, hội. Làm gì để làng nghề quanh năm sôi động với nghề?
Những nghệ nhân làm nghề thêu dệt thổ cẩm và chạm khắc bạc ở thôn Cát Cát, xã San Sả Hồ, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai đang tranh thủ những ngày nông nhàn sau Tết để làm những bộ trang phục thổ cẩm, những bộ váy, áo, mũ, túi…bán cho khách du lịch chơi Xuân.
Phát triển làng nghề để thúc đẩy kinh tế nông thôn là định hướng quan trọng của Hà Nội nhằm hiện thực hóa chương trình xây dựng nông thôn mới. Cụm công nghiệp (CCN) làng nghề được coi là nút mở để lưu giữ, phát triển làng nghề bền vững. Tuy nhiên, nhiều CCN làng nghề đang bị biến tướng, không phát huy hiệu quả, mục đích đề ra do công tác quản lý còn nhiều bất cập, lúng túng.
Hiện nay các làng nghề sản xuất các mặt hàng truyền thống đang có dấu hiệu phục hồi mạnh nhưng lại bắt đầu gặp phải những khó khăn mới do thiếu nguồn nhân lực thực hiện các đơn hàng. Xung quanh vấn đề này, chúng tôi có cuộc trao đổi với ông Lưu Duy Dần, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Làng nghề Việt Nam.
Húng Láng, cái tên đã đi vào ca dao, thành ngữ về khẩu vị sành ăn của người Hà Thành. Nhưng có lẽ hết tết này, húng Láng sẽ chỉ còn lại trong những vần điệu mà người thủ đô kể lại cho con cháu sau này…
Làng hoa Tân Quy Đông (Đồng Tháp) và làng hoa Chợ Lách (Bến Tre) từ lâu đã nổi tiếng là “vương quốc hoa kiểng” ở miền Tây Nam bộ, gắn với thị trường TPHCM. Hoa kiểng ở đó năm nay vẫn tốt tươi nhưng các chủ vườn thì thấy lo lắng nhiều...
Việt Nam có nhiều tiềm năng phát triển vùng nguyên liệu đáp ứng cho khu vực làng nghề mây, tre đan, nhưng nhiều năm qua, ngành này đã phải nhập lượng lớn nguyên liệu. Đây là một nghịch lý. Bằng các giải pháp hỗ trợ tài chính, thị trường, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật… Bộ NN&PTNT kỳ vọng từ nay đến năm 2020 sẽ giải được cơn khát nguyên liệu này.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.