Cả nước có khoảng 2.100 làng có nghề, 13 triệu lao động với thu nhập khoảng 0,7 - 3 triệu đồng/người/tháng. Các làng nghề đóng vai trò quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm cho nông dân lúc nông nhàn. Tuy nhiên, "đầu ra" cho sản phẩm làng nghề vẫn còn nhiều khó khăn.
Phụ nữ xã Tân Ước, huyện Thanh Oai sản xuất mũ, nón lá. Ảnh: Bá Hoạt
Điểm yếu cố hữu
Trong số 2.100 làng có nghề của cả nước, nhiều làng nghề cung ứng cho thị trường nội địa và xuất khẩu những sản phẩm phong phú, đa dạng, rất được ưa chuộng. Sản phẩm làng nghề chủ yếu được tiêu thụ thông qua hợp đồng với doanh nghiệp hoặc cá nhân, đặc biệt là trong các đơn hàng xuất khẩu. Với 11 nhóm nghề chính như: sơn mài, gốm sứ, thêu ren, mây tre đan, cói, dệt, giấy, tranh dân gian, gỗ, đá... trải dài từ Bắc vào Nam, khoảng 2 triệu thợ thủ công chuyên nghiệp, các làng nghề đã xuất khẩu sản phẩm ra khoảng 100 quốc gia và vùng lãnh thổ. Nhược điểm cố hữu của các làng nghề là khả năng quảng bá, tiếp thị, khảo sát thị trường, nhất là thị trường nước ngoài để định hướng sản xuất, tạo ra các sản phẩm có chất lượng, mẫu mã đáp ứng nhu cầu của thị trường còn nhiều hạn chế. Hầu hết làng nghề mới chỉ sản xuất sản phẩm sẵn có, chưa nắm bắt được nhu cầu của thị trường nên mẫu mã ít thay đổi, cải tiến cho phù hợp với thị hiếu tiêu dùng, chứ chưa nói đến định hướng được tiêu dùng.
Doanh nghiệp chủ động là chính
Là một trong những "cái nôi" làng nghề của cả nước, huyện Thường Tín có nhiều làng nghề lâu đời với những sản phẩm nổi tiếng như: sơn mài Duyên Thái, thêu Quất Động, Dũng Tiến, mây tre đan Ninh Sở, xương sừng Thụy Ứng, mộc cao cấp Vạn Điểm... Những địa phương có làng nghề phát triển mạnh là Nhị Khê, Duyên Thái, Vạn Điểm, Thắng Lợi, Quất Động, Nghiêm Xuyên. Làng nghề ở Thường Tín thu hút 75-85% trong tổng số lao động địa phương. Theo bà Nguyễn Thị Lan Hương, Giám đốc Cty CP Việt Phúc, các làng nghề đang cần được hỗ trợ từ chủ trương, vốn... đến đào tạo nghề, tạo động lực thúc đẩy kinh tế theo hướng sản phẩm có chất lượng, giá trị ngày càng cao, đặc biệt là tạo ra, duy trì ổn định việc làm cho người lao động.
Đã nhiều năm làm việc với các cơ sở sản xuất, kinh doanh, hộ sản xuất hàng tiểu thủ công mỹ nghệ tại các làng nghề truyền thống thuộc huyện Thường Tín, đến nay bà Hương cùng cộng sự đã tạo đầu ra cho hàng trăm nghìn sản phẩm làng nghề. Các sản phẩm chủ yếu Công ty Việt Phúc ký hợp đồng với làng nghề là các mặt hàng xương sừng, sơn mài, thêu... Theo bà Hương, hướng đi đúng để giữ gìn, phát triển làng nghề truyền thống theo mô hình sản xuất hàng hóa, kết hợp du lịch, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động là cần giải quyết tốt mối quan hệ giữa Nhà nước - lao động làng nghề - doanh nghiệp. Theo đó, cần phải có quy hoạch vùng, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng như đường sá, hệ thống xử lý rác, nước thải... Các cơ sở sản xuất, kinh doanh, nhà nghề phải liên kết chặt chẽ, sẵn sàng tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau, phối hợp với doanh nghiệp đầu tư phát triển kinh doanh các sản phẩm truyền thống và dịch vụ du lịch. Mặt khác, cần sớm tổ chức khảo sát mô hình làng nghề - dịch vụ du lịch tại các nước đã có những mô hình này thành công như Thái Lan, Indonesia, Malaysia...
Gắn bó và trăn trở nhiều năm với các làng nghề và sản phẩm thủ công mỹ nghệ truyền thống, bà Nguyễn Thị Lan Hương cho rằng, để tránh tình trạng "chỉ sản xuất thứ mình có chứ không phải sản phẩm thị trường cần", lao động làng nghề cần được hỗ trợ đào tạo các kỹ năng tiếp cận thông tin xúc tiến thương mại, thiết kế tạo mẫu sản phẩm chuyên nghiệp... Mặt khác, cần sớm có cổng thông tin thương mại điện tử, lập câu lạc bộ hoặc hiệp hội làng nghề và xây dựng triết lý kinh doanh, văn hóa riêng của từng làng nghề.
Trước mắt, theo bà Hương, ở góc độ doanh nghiệp, Cty CP Việt Phúc sẽ tăng cường liên kết với các doanh nghiệp tại địa phương, đẩy mạnh quảng bá sản phẩm, chủ động thiết kế tạo mẫu để có thể nhanh chóng đưa sản phẩm tới thị trường trong và ngoài nước...
Trong khi các làng nghề còn gặp nhiều khó khăn thì sự chủ động của doanh nghiệp là yếu tố quyết định trong sự phát triển làng nghề. Đây không chỉ là mô hình mà còn là hướng đi tất yếu cho 2.100 làng nghề của cả nước. Chỉ có như vậy, người lao động và sản phẩm làm ra mới có nguồn tiêu thụ ổn định.
Một quả dừa sáp - loại trái cây được coi là độc nhất vô nhị của Việt Nam, có giá cao ngất ngưởng từ 190.000-195.000 đồng, vậy mà vẫn không đủ hàng để bán.
Tổng kết 6 tháng đầu năm, mặc dù giá trị sản xuất CN-TTCN của Tiền Hải đạt 660 tỷ đồng, tăng 18,45% so với cùng kỳ năm 2010, nhưng chỉ đạt ... 41,37% mục tiêu cả năm. Nguyên nhân chính được xác định là do hoạt động của làng nghề Tiền Hải đang có chiều hướng đi xuống.
Vốn được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác nhưng hiện nhiều làng nghề truyền thống của đồng bào Churu, K’Ho ở tỉnh Lâm Đồng đang đứng trước nguy cơ bị mai một do chưa tìm được hướng đi phù hợp.
Hiệp hội Làng nghề Việt Nam liên tiếp lên tiếng về tình trạng ngày càng đi xuống của các làng nghề. Nhẹ thì gặp khó khăn đầu ra do thị trường thu thu hẹp, lợi nhuận suy giảm khi chi phí và lãi vay tăng lên... nặng thì dừng sản xuất, cắt giảm nhân công.
Giá xăng dầu, điện, vật tư nông nghiệp tăng đã đẩy giá thành nhiều mặt hàng tăng cao, trong khi hợp đồng đã ký; khó vay vốn ngân hàng để mua nguyên liệu chế biến… Những khó khăn này đang đẩy nhiều cơ sở, hợp tác xã và doanh nghiệp (DN) ở TPHCM có nguy cơ trắng tay.
Xăng dầu, điện nước, thức ăn... đồng loạt tăng giá khiến các hộ chăn nuôi điêu đứng. Nhiều hộ chỉ sản xuất cầm chừng. Các trang trại (TT) chăn nuôi đang rất cần sự hỗ trợ của Nhà nước để có thể tiếp tục sản xuất kinh doanh.
Nhiều người gọi vùng nam Phú Lộc, tỉnh TT - Huế, là thủ phủ dầu tràm miền Trung. Nghề dầu tràm phục hồi, nhiều chủ lò dầu vẫn không vui bởi thật - giả lẫn lộn.
Năm 2006 một số nhà đầu tư đến xã Tam Thôn Hiệp huyện Cần Giờ TPHCM xây nhà nuôi chim yến. Nhận thấy có hiệu quả, số lượng nhà nuôi chim yến trên địa bàn huyện Cần Giờ ngày càng tăng và mở rộng ra các xã Bình Khánh, An Thới Đông, Lý Nhơn, Long Hòa và thị trấn Cần Thạnh. Nuôi chim yến đã trở thành hướng sản xuất mới ở Cần Giờ sau khi việc nuôi tôm ở đây đi vào thoái trào.
Xã Phú Túc (Phú Xuyên, Hà Nội) từng được ca ngợi là "làng tỉ phú" nhờ có nghề xuất khẩu hàng mây, tre đan. Nhưng hiện nay, hàng trăm cơ sở đang phải "đắp chiếu" hoặc sản xuất cầm chừng, sản phẩm làm ra không xuất khẩu được vẫn ứ đọng trong kho, hàng nghìn lao động không còn việc làm… Các doanh nghiệp đang kêu trời vì đã cạn vốn trong khi nguồn vốn hỗ trợ lãi suất chưa thể tiếp cận.
Qua trao đổi, thảo luận và khảo sát thực tế, đoàn giám sát đã thống nhất 5 nhóm giải pháp để thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường tại các làng nghề ở Bắc Ninh.
Vịnh Lăng Cô (Phú Lộc, Thừa Thiên - Huế) là một trong 30 vịnh đẹp nhất thế giới đang bị ô nhiễm nặng khi hàng chục lò nung vôi hàu đêm ngày hoạt động. Hàng chục năm liền, các ban, ngành ở Thừa Thiên - Huế vẫn chưa tìm được lời giải khi lợi nhuận từ việc khai thác vôi hàu khá lớn, khiến người dân bất chấp mọi lệnh cấm.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.