Bà Chan tuyên bố: “Hiện nay, chúng ta đang chuyển sang giai đoạn hậu đại dịch”.
Tuyên bố trên được đưa ra dựa trên tư vấn và đề nghị của các chuyên gia về cúm sau khi kiểm tra các dữ liệu, chủ yếu ở Nam bán cầu, và thống nhất trong cuộc họp diễn ra sáng cùng ngày.
Trước đó, WHO bị chỉ trích về việc tuyên bố dịch cúm xảy ra trong vòng 40 năm qua là “đại dịch” vào thời điểm mà dịch cúm này tại nhiều nước có chiều hướng giảm nhẹ. Nhiều nhà khoa học thậm chí đã cáo buộc WHO chịu tác động của các hãng dược để đẩy tình trạng dịch cúm lên nghiêm trọng hơn. WHO đã phản bác việc ban bố đại dịch bị ảnh hưởng bởi hãng dược.
“Sau cao điểm” hay “sau đại dịch”?
Ủy ban khẩn cấp của WHO do bà Chan chủ trì đã mất 3 giờ để đưa ra quyết định tuyên bố dịch cúm “sau cao điểm” hay “sau đại dịch”.
Tháng 6-2009, WHO tuyên bố cúm A/H1N1 xuất hiện tại Mỹ và Mexico lan nhanh trên thế giới trong vòng 6 tuần là “đại dịch”. Tình trạng đại dịch tương đương cấp độ 6, mức cao nhất trong thang đo tình trạng lan tràn của một dịch bệnh trên thế giới.
Việc WHO đánh giá một dịch bệnh có phải là “đại dịch” hay không rất quan trọng với các quan chức y tế và sẽ dẫn đến quyết định của các chính phủ liên quan đến việc lên kế hoạch dự trữ và phân phối vaccine. Hàng chục công ty đã tham gia bào chế vaccine ngừa cúm, trong đó có Sanofi-Aventis, GlaxoSmithKline, Novartis, AstraZeneca và CSL.
Hiện, WHO còn phải giải thích về những con số do tổ chức này đưa ra. Ước tính, cúm mùa khiến khoảng 500.000 người chết/năm, trong đó 90% là người già. Trong khi đó, đại dịch năm 1957 khiến 2 triệu người chết và đại dịch năm 1968 khiến 1 triệu người chết.
Với đợt cúm A/H1N1 vừa qua, WHO ghi nhận 18.449 trường hợp tử vong trên thế giới, trong đó có nhiều thai phụ và người trẻ. Tuy nhiên, WHO cho biết phải mất ít nhất một năm sau khi đại dịch kết thúc mới xác định được số người tử vong một cách chính xác nhất, và dự đoán con số có thể cao hơn.