Nhật đã trải qua hơn 20 năm tăng trưởng thấp, với hàng loạt vấn đề như giảm phát...và Mỹ cũng đang bắt đầu lo ngại đi vào vết xe đổ của Nhật.
Có rất nhiều điểm tương đồng trong tình hình kinh tế khó khăn của Mỹ và Nhật. Cả hai nước đều có dân số già, đều đang duy trì mức lãi suất rất thấp, tuy nhiên chính sách lãi suất này lại chẳng phát huy mấy tác dụng kích thích kinh tế. Ngoài ra cả hai đều đang vật lộn với gánh nặng nợ nần.
Liệu Mỹ có bước vào giai đoạn suy thoái kéo dài như Nhật?
Câu trả lời từ giới chuyên gia là rất có thể là không: vấn đề chính đối với Nhật là phản ứng quá chậm đối với các vấn đề của mình, trong khi đó Mỹ lại ứng phó khá nhanh nhạy với khủng hoảng kinh tế. Tuy nhiên, các vấn đề nước Mỹ đang phải đối mặt sẽ phải mất 2 đến 5 năm tới để giải quyết. Và các nhà đầu tư có thể học được nhiều điều từ kinh nghiệm của Nhật trong trường hợp tình trạng kinh tế bất lợi vẫn kéo dài.
Theo số liệu của Cục Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia (NBER) của Mỹ, suy thoái kinh tế Mỹ chính thức bắt đầu từ tháng 12/2007 và kết thúc vào tháng 6/2009. Nhưng với hầu hết người dân Mỹ hiện nay, cuộc khủng hoảng dường như vẫn đang hiện hữu. Các số liệu từ NBER cho thấy, tỉ lệ thất nghiệp đang ở mức 9,1%, GDP tăng trưởng chậm ở mức 1,3% trong quý II, và dự báo sẽ tăng trưởng 2,5% trong quý III.
Mặc dù tình hình kinh tế Mỹ cũng đang rất ảm đạm, nhưng so với Nhật thì vẫn còn khả quan hơn. Theo ông Bill Kenedy, chuyên gia quản lý quỹ của Fidelity International Discovery Fund thì “Nhật không phải trải qua một mà là hai “thập kỷ bị đánh mất”. Tình trạng trì trệ đã kéo dài suốt từ những năm 1990 cho đến hiện nay. Cụ thể, chỉ số Nikkei đã giảm tới 80% kể từ mức đỉnh năm 1989 và giá bất động sản cũng giảm hơn 80%.
Theo chuyên gia kinh tế cấp cao của Action Economics, Ryan Brecht, “ khả năng Mỹ rơi vào suy thoái như Nhật đang tăng lên”, với hàng loạt vấn đề khó khăn trùng hợp giữa hai nước.
Ví dụ, suy thoái của nước Nhật khởi phát với thị trường bất động sản phát triển quá nóng và thị trường tín dụng mất kiểm soát, tương tự như tình hình ở Mỹ với giá nhà đất giảm hơn 30% kể từ năm 2006, theo số liệu của Standard&Poor.
Cả Mỹ và Nhật đều chứng kiến thị trường chứng khoán suy giảm đáng kể. Cả hai nước đều đang gặp vấn đề với tỷ lệ vay nợ cao: Nợ của người tiêu dùng Mỹ và nợ của doanh nghiệp Nhật. Thêm nữa là dân số già đồng nghĩa với việc lực lượng lao động trẻ với số lượng ít sẽ phải có trách nhiệm hỗ trợ thế hệ người cao tuổi đã về hưu.
Kinh tế Nhật ngày càng tồi tệ vì 3 lý do:
Trước hết, các ngân hàng Nhật đã quá chậm trễ trong việc xoá sổ nợ xấu. Ông Kennedy bình luận: “Các ngân hàng Nhật phải mất tới 10 năm mới ghi nhận các khoản nợ xấu”. Theo ông Kenichi Amaki, chuyên gia quản lý quỹ tại Matthews Funds, các doanh nghiệp Nhật thường trả nợ dần trong nhiều năm nhưng chính trong khoảng thời gian đó lại không tiến hành đầu tư mở rộng sản xuất. Đó là lý do khiến nền kinh tế Nhật luôn trong tình trạng trì trệ.
Thứ hai, sau cơn suy thoái đầu tiên năm 1990, ngân hàng Trung ương Nhật đã giữ lãi suất ở mức cao trong một thời gian quá dài. Cụ thể, lãi suất cho vay ngắn hạn năm 1991 là 6,88% (1992: 3,91%), mặc dù giá bất động sản đã giảm 5,11% năm 1992. Và mãi đến tận năm 1995, Nhật Bản mới đưa lãi suất về gần 0%.
Và cuối cùng, do quan ngại bị tụt hạng tín dụng do tỷ lệ nợ cao, Nhật đã nâng thuế tiêu dùng năm 1997, chính sách này lại một lần nữa cản trở kinh tế Nhật phát triển khi vừa mới manh nha cơ hội phục hồi. Chuyên gia kinh tế trưởng tại Wells Fargo Bank cho rằng :”Nhật đã lặp lại sai lầm của Mỹ năm 1937 – đó là nâng thuế suất quá sớm”.
Hiện nay, Nhật lại lâm vào giảm phát kéo dài. Một phần nguyên nhân của tình trạng này là nguồn cung hàng hoá giá rẻ chất lượng tốt đến từ Trung Quốc. Ông Amaki cho rằng :”Mặc dù Nhật đã cắt giảm tổng cung, nhưng cứ mỗi đơn vị hàng hoá được cắt giảm, thì hàng hoá Trung Quốc lại bù đắp vào đó gấp 3”. Ngoài ra, giảm phát còn đến từ tâm lí chung của người tiêu dùng Nhật luôn chờ đợi đến lúc hàng hoá giảm giá.
Một nhân tố nữa đó chính là cơ cấu dân số già của Nhật. Theo CIA, 50% dân số Nhật trên 45 tuổi, trong khi con số ở Mỹ là 37%. Cả Mỹ và Nhật đều đang chứng kiến sự già hoá dân số, với số người trẻ ít hơn, đồng nghĩa với việc giảm quỹ lương hưu và quỹ chăm sóc sức khoẻ. Nhưng điểm khác biệt là dân số Mỹ vẫn tiếp tục gia tăng, nhờ đó mà GDP của Mỹ vẫn tăng trưởng.
Nước Nhật tỏ ra không được may mắn cho lắm mỗi khi thời cơ phục hồi kinh tế xuất hiện. Theo ông Amaki, khi cuộc khủng hoảng bảng cân đối kế toán (thuật ngữ do Richard Koo đưa ra) kết thúc năm 2006, các doanh nghiệp Nhật Bản có xu hướng sử dụng nhiều nợ hơn để mở rộng kinh doanh, nhưng tất cả đã chấm dứt khi khủng hoảng tài chính 2008 nổ ra, thêm vào đó là thảm hoạ động đất, sóng thần, và nổ nhà máy điện hạt nhân năm 2011 càng làm Nhật Bản thêm chồng chất khó khăn.
Nước Mỹ khác gì Nhật?
Nước Mỹ có thể tránh được một kịch bản tương tự Nhật Bản bởi nhiều lí do. Cục Dự trữ Liên bang Mỹ Fed đã rất nhạy bén khi ứng phó với khủng hoảng tài chính 2008, với chính sách cắt giảm lãi suất về gần 0%.
Bên cạnh đó, người tiêu dùng Mỹ đang có xu hướng trả nợ dần và tiết kiệm nhiều hơn. Mặc dù đây là cả một quá trình diễn ra lâu dài, tuy nhiên người Mỹ cũng đang dần nhận rằng, trả hết nợ nần sẽ làm tăng thu nhập khả dụng, đồng nghĩa với việc sẽ chi tiêu nhiều hơn.
Vậy điều gì có thể cản trở nước Mỹ phục hồi? Amaki cho rằng :”khi các đảng phái chính trị ở Mỹ tranh cãi xem nên tác động tới thói quen tiêu dùng của nguời Mỹ hay nên tăng thuế, chúng ta nên liên hệ tới kinh nghiệm của Nhật Bản. Trong ngắn hạn, tăng thuế suất sẽ là một chính sách tồi.”
Bài học cho các nhà đầu tư Mỹ
Đối với các nhà đầu tư, viễn cảnh kinh tế u ám kéo dài đồng nghĩa với mức lợi nhuận thấp. Tuy nhiên mặc dù thị trường diễn biến xấu, một số cổ phiếu Nhật vẫn tăng trưởng rất khả quan. Và sau đây là một số bài học cho các nhà đầu tư rút ra từ kinh nghiệm của nước Nhật:
• Gạn đục khơi trong: Mặc dù diễn biến toàn thị trường có thể không tốt nhưng vẫn có một số ngành ăn nên làm ra trong khi những ngành khác điêu đứng. Ví dụ như, đầu tư vào cổ phiếu khối ngành dịch vụ tài chính sẽ là một quyết định sai lầm. Trong khi đó, ngành ôtô Nhật lại tương đối phát đạt trước khi vấp phải cạnh tranh khốc liệt từ phía các nhà sản xuất ôtô Hàn Quốc và Trung Quốc, và một phần do tỷ giá đồng yên quá cao.
• Giảm giá: Trong bối cảnh giảm phát, người tiêu dùng luôn có xu hướng chuộng hàng giá rẻ. Các công ty nào mạnh dạn giảm giá, đánh trúng tâm lý này của người tiêu dùng sẽ thành công. Một ví dụ mà Kennedy đưa ra từ chính danh mục đầu tư của mình là Morningstar từ chỉ 1 cửa hàng giảm giá đã phát triển nhanh chóng thành mạng lưới với 150 cửa hàng.
• Biết mềm dẻo linh hoạt: Các công ty Nhật sở dĩ lâm vào cảnh khó khăn do không phản ứng đủ nhanh trước các biến động. Các nhà sản xuất ôtô Nhật, cũng tương tự như các nhà sản xuất hàng điện tử trước đây, đã hết sức khó khăn khi phải chống lại sức cạnh tranh khốc liệt từ các đối thủ Hàn Quốc. Điểm khác biệt lớn nhất giữa các công ty Nhật và Mỹ chính là khả năng tự làm mới mình.
Các doanh nghiệp Mỹ có lợi thế là đồng USD yếu giúp hàng hoá Mỹ rẻ hơn. Ngành sản xuất Mỹ được cho rằng đang thu hẹp nhưng kì thực đó là do các nhà sản xuất của Mỹ hoạt động hiệu quả với năng suất cao, giúp ngành sản xuất Mỹ có thể duy trì được vị trí hàng đầu thế giới.
Tóm lại, trong bối cảnh kinh tế ảm đạm kéo dài, các nhà đầu tư hãy luôn sáng suốt lựa chọn các doanh nghiệp với triển vọng lợi nhuận khả quan, và khả năng cắt giảm giá bán để kích thích doanh số.
Tổng giám đốc Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) Christine Lagarde vừa cảnh báo, cuộc khủng hoảng nợ châu Âu có nguy cơ đẩy nền kinh tế toàn cầu vào một “thập kỷ mất mát”, hãng tin CNBC cho hay.
Sự chuyển đổi quyền lực kinh tế từ phương Tây sang phương Đông đang được thực hiện với tốc độ nhanh và thế giới các quốc gia giàu có sẽ sớm mất ưu thế của mình.
Nhà nước thì luôn có xu hướng tập trung quyền lực, còn thể chế pháp quyền và giải trình và chịu trách nhiệm chính trị thì lại đặt ra những hạn chế theo phương thức, đó là, cho dù chính quyền có mạnh đến đâu chăng nữa thì nó vẫn phải được kiềm tỏa bởi pháp luật và chịu trách nhiệm giải trình trước nhân dân.
Khi Đông Á đang nỗ lực đối phó những thách thức an ninh biển đang gia tăng ở khu vực Tây Thái Bình Dương – bao gồm thay đổi cán cân quyền lực, căng thẳng tranh chấp trên biển và bất đồng cơ bản về cách giải thích Luật Biển – có ba câu chuyện mới sẽ góp phần xác định lại cấu trúc địa chính trị khu vực.
Thị trường thế toàn cầu đang rất hoang mang. Tất cả mọi người đều biết rằng giờ đây ba trụ cột của kinh tế thế giới không còn giữ vững được vị thế của mình. Châu Âu, Trung Quốc, Mỹ, nền kinh tế nào tồi tệ nhất?
Con đường kinh tế của quốc gia nào, Trung Quốc hay Ấn Độ, chủ nghĩa tư bản nhà nước hay doanh nghiệp tư nhân - sẽ bền vững? Xã hội nào sẽ tồn tại tốt hơn? Quốc gia nào có ý thức mạnh mẽ hơn về số phận của mình? Cả thế giới đều muốn biết câu trả lời.
Trong báo cáo “Tình hình năng lượng thế giới năm 2011” vừa công bố, Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA) nhận định, trong vài thập kỷ tới, Nga sẽ là "nền tảng của hệ thống năng lượng toàn cầu."
Thủ tướng Đức Angela Merkel vừa đưa ra nhận định rằng những khó khăn tài chính trong khu vực sử dụng đồng euro (Eurozone) có thể là cuộc khủng hoảng nghiêm trọng nhất của châu Âu kể từ sau cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai.
Trong lịch sử thế giới, sự phát triển của nhà nước Trung Quốc có một tầm quan trọng đặc biệt. Ở Phương Tây, người ta quen mô tả sự phát triển của các thể chế theo những chuẩn mực dựa trên thực tiễn Châu Âu, trong khi đó lại quên một sự thật: Trung Quốc là nơi đầu tiên mà nhà nước đã được hình thành, tức là khoảng 1700 – 1800 năm sớm hơn Châu Âu.
Chính việc tạo ra một phiên bản mới của đế chế Nga, cùng với sự củng cố ảnh hưởng của Mỹ ở vùng ngoại biên đế chế này, sẽ gây ra nhiều thù địch giữa Moscow và Washington. Tình huống này sẽ tạo ra một bối cảnh cho một cuộc chiến tranh Lạnh phiên bản mới, dù nó sẽ không kéo dài như trước.
Các cuộc tấn công khủng bố năm 2001, sau đó là các cuộc chiến tranh tại Afghanistan và Iraq, cuộc đại suy thoái năm 2008, phong trào Mùa xuân Arập và cuộc khủng hoảng nợ châu Âu, tất cả đều đang làm Mỹ lạc hướng khỏi việc giúp tạo ra một cấu trúc bền vững cho hòa bình để phù hợp với châu Á trỗi dậy ngày nay.
Trong khi Mỹ và EU đang phải đối mặt với tình trạng tốc độ tăng trưởng chậm chạp thì nhiều DN đã chuyển hướng sang các thị trường mới nổi để mở rộng kinh doanh nhằm thu được nhiều lợi nhuận hơn. Dưới đây là danh sách 10 quốc gia khiến các DN gặp khó khăn nhất trong việc kinh doanh.
Chỉ có thể là thủ tướng Hy Lạp George Papandreou. Kể cũng thật hài hước khi mãi đến lúc này vị thủ tướng này mới quan tâm đến nhân dân. Tư thế thay đổi đến chóng mặt của ông làm dư luận thật sự hoài nghi rằng điều mà ông gọi là "mệnh lệnh của nhân dân" có phải chính là mệnh lệnh đối với số phận chính trị của ông?
Trong khi Mỹ vừa kịp phấn khởi với con số tăng trưởng GDP 2,5% trong quý III/2011, nhiều quốc gia khu vực châu Á và châu Phi có tốc độ tăng trưởng GDP cao hơn nhiều, từ 6,3% đến... 48,7%.
Điều quan trọng hơn cả là Washington tin tưởng rằng các cường quốc chủ yếu khác đều có thể là những đối tác tốt để hợp tác nhằm gìn giữ hệ thống quốc tế hiện nay. TQ và Mỹ không phải các quốc gia duy nhất có đủ năng lực góp phần lãnh đạo thế giới. Nhật bản, Nga và Cộng đồng Châu Âu cũng có đủ năng lực đó và họ đã cho thấy thái độ có trách nhiệm của họ như thế nào.
Do kinh tế tăng trưởng bùng nổ, nước đang ra đi khỏi Trung Quốc: các ao hồ đang bốc hơi, các sông băng tan chảy, các dòng sông khô cạn. Hơn 50 thành phố Trung Quốc đã ghi nhận sự sụt lún liên tục, 75% rừng bị phá hủy...
Báo chí quốc tế gần đây xôn xao chuyện người đồng sáng lập mạng xã hội Facebook, anh Eduardo Saverin, xin từ bỏ quốc tịch Mỹ và cư trú dài hạn ở Singapore nhằm tránh thuế suất thuế thu nhập cao ngất ngưởng ở Mỹ.
Hôm 20/5, lãnh đạo 8 nền kinh tế phát triển gồm Anh, Canada, Pháp, Đức, Italy, Nhật Bản, Nga và Mỹ (G8) đã kết thúc hội nghị thượng đỉnh thường niên của nhóm tại Trại David (Maryland, Mỹ).
Các nhà lãnh đạo của Trung Quốc đã bắt đầu sử dụng đến các công cụ kích thích kinh tế để chặn đà suy giảm tăng trưởng. Nhưng theo giới quan sát, Bắc Kinh giờ không còn nhiều lựa chọn như trước.
Ngày 29-4 vừa qua, Thủ tướng Đức Angela Merkel lên tiếng bà sẽ gửi đoàn bác sĩ đến Ukraina để thảo luận với Tổng thống Viktor Yanukovich về việc đưa cựu Thủ tướng Tymoshenko đến Đức để chữa bệnh theo yêu cầu của bà Tymoshenko.
Trong những ngày gần đây, tình hình tại biển Đông lại có xu hướng nóng lên với những tranh chấp giữa Trung Quốc và Philippines. Đây là điều dễ hiểu vì lợi ích tại biển Đông đối với Trung Quốc và các nước tuyên bố chủ quyền ở khu vực này là rất lớn.
Một kế hoạch của chính phủ trung ương Trung Quốc nhằm tạo ra sự đột phá lớn trong công nghiệp du lịch trên hòn đảo nhiệt đới Hải Nam dự báo sự tăng trưởng vượt bậc trong kinh tế. Tuy nhiên, nó cũng làm rộng thêm khoảng cách giữa người giàu và người nghèo mà Bắc Kinh đang cố gắng thu hẹp.
So với phương Tây, các tổ chức xã hội của Trung Quốc còn rất không chín muồi, chưa thể hiện rõ tính chất tự chủ, tự nguyện, phi chính phủ; còn nặng tính quá độ, tương ứng với thực tế xã hội Trung Quốc đang ở thời kỳ chuyển đổi.
Chuyện Tổng thống Nga Vladimir Putin không tới tham dự hội nghị thượng đỉnh 8 nền kinh tế lớn nhất thế giới (G8), thay vào đó là Thủ tướng Dmitry Medvedev, đang tạo ra nhiều câu hỏi về lý do thực sự của nó.